Friday, 29 July 2011

Bình luận về bài viết của tác giả Hải Lý trên TBKTSG số 645 về giải pháp vừa hạ được lãi suất vừa chống được lạm phát

Trong bài viết: “Liệu pháp nặng ký cho lãi suất” của tác giả Hải Lý trên TBKTSG số 645 (link: http://www.thesaigontimes.vn/epaper2010/TB-KTSG/645/#/17), tác giả đã đề xuất những giải pháp chống lạm phát mà vẫn được hạ lãi suất. Trước tiên cần đánh giá cao tinh thần sáng tạo và mạnh dạn của tác giả khi cố gắng đưa ra những giải pháp “không đụng hàng” nhằm giải quyết triệt để vấn đề nóng – lạm phát và lãi suất cao – hiện nay nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích chung (kiềm chế được lạm phát) và lợi ích cục bộ (doanh nghiệp tiếp cận được lãi suất thấp), tuy tác giả cũng nhấn mạnh đây chỉ là những đề xuất và mong nhận được ý kiến trao đổi.
Vì khó khái quát được điểm chung trong những giải pháp của tác giả nên ở đây tớ chọn cách bình luận theo từng điểm/giải pháp mà tác giả nêu ra.
Mở đầu bài, như là một cách đặt vấn đề, tác giả nêu ra trường hợp Xi măng Bỉm Sơn lỗ gần 22 tỷ đồng trong quý 2 năm nay là do chi phí lãi vay tăng vọt (từ 2,5 tỷ đồng quý 2 năm trước lên 103 tỷ đồng; lãi vay trong 6 tháng đầu năm lên tới 198 tỷ đồng) và kết luận luôn rằng lợi nhuận làm ra bao nhiêu chỉ đủ để trả lãi ngân hàng. Đây là một kiểu tư duy rất phổ biến hiện nay, tuy nó rất chủ quan, và có thể hoàn toàn phiến diện, sai lệch, dẫn đến những kết luận cũng mang tính chủ quan, suy diễn, khái quát hóa những điều không có thật hoặc không phải là một hiện tượng phổ biến.
Điều tối thiểu khi phân tích chuyện công nợ của một doanh nghiệp là phải nhìn vào biến động vốn vay của doanh nghiệp trước đây, hiện tại, và trong tương lai gần. Bỉm Sơn đã phải trả lãi vay tăng vọt không chỉ bởi lãi suất tăng vọt (là điều mà lẽ ra phải được đưa ra để chứng minh là có thế thật, cụ thể là tăng từ bao nhiêu % lên bao nhiêu %) mà còn chắc chắn phần lớn là do công ty đã vay mượn nhiều hơn rất nhiều so với cùng kỳ năm trước. Để minh họa (một cách sơ khai vì không có đủ dữ liệu và chính xác), với 2,5 tỷ đồng lãi trong quý 2 năm trước, với giả thiết lãi suất lúc đó chỉ là 10%/năm thì có thể suy ra số vốn vay ngân hàng là 25 tỷ (lưu ý, lãi suất càng cao thì số vốn vay càng nhỏ để cho ra được số lãi phải trả là 2,5 tỷ đồng). Sang quý 2 năm nay, giả sử lãi suất mà Bỉm Sơn phải trả tăng vọt lên 25%/năm (tăng 250%!). Với số tiền lãi đã trả là 103 tỷ đồng, có thể suy ra trong quý 2 Bỉm Sơn đã có một số vốn vay ngân hàng là 412 tỷ đồng (tăng 1,650%!). Nếu lãi suất cho vay chỉ là 20%/năm thì số vốn vay tương ứng là 515 tỷ đồng (số nợ còn lớn hơn nữa!). Còn nếu lãi suất thấp hơn nữa, ví dụ, 15%/năm thì số vốn vay phải là 687 tỷ đồng (tiếp tục lớn hơn!). Có nghĩa là dù với mức lãi suất thế nào chăng nữa cũng chỉ cho thấy một điều rằng tiền lãi của công ty đã tăng vọt chủ yếu bởi công ty đã vay mượn đột biến quá nhiều trong quý 2. Điều này có thể là do công ty bắt tay đầu tư vào một dự án mới hoặc dự án mở rộng, hoặc có một (vài) khỏan đầu tư tài chính, bất động sản, tham gia góp vốn liên doanh v.v... nào đó, hoặc đơn giản là phải thực hiện một nghĩa vụ tài chính nào đó mà phải đi vay vì không còn đủ tiền mặt và các tài sản có tính như tiền mặt.
Tóm lại là có thể có nhiều lý do nhưng chắc chắn lãi suất không phải là lý do chủ yếu để làm tăng tiền lãi vay như tác giả Hải Lý nhận định. Khi đã “vung tay quá trán” như thế này rồi thì cho dù có đúng như tác giả kết luận “lợi nhuận làm ra không đủ để trả lãi ngân hàng” thì âu cũng là điều dễ hiểu và không thể chĩa mũi dùi sang chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) được như tác giả và dư luận hiện nay đang làm.
Tuy tiền đề đã sai (lạm phát cao à thắt chặt tiền tệ à lãi suất cao àdoanh nghiệp sản xuất đình đốn à cần hạ lãi suất NHƯNG vẫn chống được lạm phát) , lẽ ra không cần phải phản biện hay phân tích những giải pháp cho một mối liên hệ không tồn tại, nhưng tớ thấy có nhiều điều đáng nói trong bản thân các giải pháp của tác giả nên tớ tiếp tục phần sau.
Về nguyên nhân lãi suất cao, tác giả cho rằng trước hết là do tổng phương tiện thanh toán co hẹp vì doanh nghiệp đã rút ra khỏi ngân hàng 156 nghìn tỷ đồng, với lý do, theo tác giả, bởi lãi suất cao và khó vay vốn.  Lập luận này thiếu logic. cứ cho là doanh nghiệp đã rút ra khỏi hệ thống ngân hàng từng đó vốn, nhưng tổng phương tiện thanh toán (theo giải thích của tác giả là gồm tiền gửi ngân hàng và tiền trong lưu thông) phải là không đổi vì tổng tiền gửi ngân hàng giảm đi phải đúng bằng lượng tiền tăng lên trong lưu thông. Doanh nghiệp rút tiền từ ngân hàng ra nếu không gửi lại vào ngân hàng khác thì chỉ còn một con đường nữa là mang ra chi tiêu (tức là tung vào lưu thông).[1] Lẽ ra, để chứng minh chuyện này, tác giả cần tìm được con số thống kê cho thấy tổng phương tiện thanh toán đã giảm so với trước (ví dụ so sánh tại thời điểm nào đó trước khi Chính phủ ra Nghị quyết 11 và thời điểm hiện nay), chứ không phải là chứng minh cho thấy  có sự dịch chuyển trong nội bộ tổng phương tiện thanh toán.
Nhân liên quan đến chuyện này, nếu đúng theo tác giả rằng doanh nghiệp đã rút vốn ra khỏi ngân hàng vì lãi suất cao và khó vay vốn, suy ra là doanh nghiệp trước đây có một số vốn bằng tiền mặt nhàn rỗi (không mang ra đầu tư, chi tiêu), gửi vào ngân hàng để hưởng lãi trong khi lại đi vay ngân hàng một số vốn khác. Điều này có nghĩa là có nhiều doanh nghiệp đã được tiếp cận với tín dụng lãi suất thấp hơn cả lãi suất tiền gửi, và họ đã lợi dụng chuyện chênh lệch này để ngồi không hưởng lợi.  Thế thì hiện nay việc nâng lãi suất, cắt các khoản cho vay ưu đãi để khắc phục tình trạng bất hợp lý này (buộc doanh nghiệp phải dùng đến các khoản tiền mặt nhàn rỗi) là một điều hợp lý nên làm chứ, sao lại kêu gọi giảm lãi suất làm gì?
Nguyên nhân thứ hai làm tăng lãi suất, theo tác giả, là do sự cạnh tranh lãi suất giữa ngân hàng nhỏ với ngân hàng lớn vì phải giữ chân khách gửi tiền, mặc dù “thanh khoản ngân hàng đã dễ thở hơn” kể từ khi NHNN kiểm soát gắt gao tăng trưởng tín dụng cho phi sản xuất và có sự dịch chuyển tiền gửi từ ngoại tệ và vàng sang tiền đồng. Đây cũng là một lập luận thiếu logic. Nếu, theo tác giả, “thanh khoản ngân hàng đã dễ thở hơn” và thậm chí các ngân hàng lớn còn thừa vốn đến mức tham gia mua trái phiếu Chính phủ, có nghĩa là tổng cung tiền đã tăng lên (không thể nói khác đi được), và áp lực để giữ lãi suất cao nhằm giữ chân khách không còn mạnh nữa, ít nhất là đối với các ngân hàng lớn có thừa vốn này. Vậy các ngân hàng nhỏ lẽ ra phải cảm thấy dễ thở hơn chứ vì lẽ ra chỉ cần duy trì mức lãi suất hiện tại (không cần phải tăng lãi suất) là đủ để giữ chân khách (theo mạch logic của tác giả thì ngân hàng lớn không cần phải cạnh tranh với ngân hàng nhỏ về lãi suất). Nói cách khác, nhìn cả từ ngân hàng nhỏ và ngân hàng lớn thì rõ ràng áp lực tăng lãi suất hiện nay đã không còn lớn như so với trước đây. Suy ra tiếp, chuyện cạnh tranh lãi suất hiện nay không phải là nguyên nhân trực tiếp làm cho/duy trì lãi suất cao.
Trong đoạn nói về tái cấp vốn và tăng dự trữ bắt buộc (DTBB), tác giả cho rằng NHNN hạ lãi suất thị trường mở từ 15% xuống 14% đã không giải quyết được “cội gốc” của vấn đề (làm cho lãi suất cao? - NV) và làm cho dư luận hiểu sai rằng đây là tín hiệu nới lỏng tiền tệ. Cần nói ngay rằng hành động này của NHNN thực chất là một hành động nới lỏng cung tiền, dù được mô tả dưới bất kỳ một tên gọi nào. Và hành động này chắc chắn (nếu tiếp tục, và/hoặc ở quy mô lớn) sẽ làm giảm lãi suất tiền gửi và cho vay trong nền kinh tế. Đây cũng cần được coi là một trong những hành động giải quyết “cội gốc” của vấn đề lãi suất cao, một trong những hoạt động nghiệp vụ cơ bản của NHTW, chứ không như tác giả nhìn nhận.
Tác giả lập luận tiếp, “cái gốc của tiền tệ là sự mất cân đối của kỳ hạn dòng vốn và sự lồi lõm của nguồn vốn”. Không hiểu “cái gốc của tiền tệ” ở đây là tác giả muốn nói đến cái gì, nhưng theo mạch của bài thì có thể đoán rằng tác giả đang nói đến “cội gốc” của lãi suất cao. Nếu đúng vậy thì tác giả lại bất nhất với chính lập luận của mình khi phần trên tác giả chỉ ra lãi suất cao là bởi tín dụng thắt chặt, ảnh hưởng đến thanh khoản ngân hàng (ngay tại điểm này tác giả cũng lại mâu thuẫn vì như đã cho thấy ở phần nói đến sự cạnh tranh giữa ngân hàng lớn và ngân hàng nhỏ, tác giả công nhận rằng thanh khoản đã được cải thiện, nhưng trên thực tế lãi suất lại không giảm).
Tác giả chỉ ra rằng “tái cấp vốn cho ngân hàng nhỏ trên cơ sở thế chấp vốn điều lệ là biện pháp hữu hiệu nhưng đã không được tiến hành”. Lại là một lập luận không rõ ràng. Biện pháp cho cái gì? Để “cứu” thanh khoản trong hệ thống ngân hàng? Để cứu các ngân hàng nhỏ khỏi đổ vỡ do không huy động được vốn? Dù vì lý do nào chăng nữa, tại sao NHNN phải tiến hành tái cấp vốn cho ngân hàng nhỏ? Cũng đã có thống kê, đánh giá nào cho thấy, và ai lên tiếng cảnh báo rằng, các ngân hàng nhỏ đang thua lỗ, có khả năng mất thanh khoản gây ra đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống ngân hàng đâu, và NHNN cần phải tái cấp vốn cho họ ngay bây giờ để cứu chúng đâu?
Thực ra, chuyện tái cấp vốn này không phải là điều mới mẻ gì, và thường được thực hiện chỉ trong những tình huống cực đoan, khi NHTW cần phải cứu giúp một ngân hàng nào đó đang phải đối mặt với khả năng phá sản, như ở Mỹ mới gần đây nhất. Nếu tác giả cho rằng cần phải “đưa nước xa đến lửa gần”, tái cấp vốn để phòng ngừa và dập tắt những cơn sốt thanh khoản thì tốt nhất NHNN ngay từ đầu đừng thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nữa, vì điều này (khó khăn về thanh khoản) là khó tránh khỏi. Thay vào đó, lẽ ra tác giả phải đề xuất giải pháp phòng ngừa là NHNN phải hoàn thiện các tiêu chí hoạt động an toàn trong hệ thống và tăng cường công tác giám sát quản lý rủi ro để không một ngân hàng nào, dù nhỏ hay lớn, bị rơi vào tình huống mất thanh khoản dù trong bất cứ hoàn cảnh nào (ví dụ, chính sách tiền tệ  thắt chặt hay nới lỏng), và nếu có thì sớm phát hiện ra và có giải pháp cấp cứu như chuyện tái cấp vốn nêu trên.
Bước tiếp theo mà tác giả đề xuất (để tăng thanh khoản? – NV), là việc NHNN phải tăng dự trữ bắt buộc (DTBB) tiền đồng (chính xác hơn phải nói là tăng “tỷ lệ DTBB” – NV) và tăng lãi suất dự trữ bắt buộc lên 12%-13%/năm. Ở đây có thể thấy ngay mấy cái mâu thuẫn và bất hợp lý. Nếu đã tăng tỷ lệ DTBB thì đồng nghĩa với thắt chặt cung tiền (vì NHNN sẽ để phần DTBB thu được này trong két sắt của mình chứ không tung ra lưu thông nữa – một hành động nghiệp vụ căn bản khi muốn giảm cung tiền, giảm tổng phương tiện thanh toán. Hạ tỷ lệ DTBB sẽ nhằm mục đích ngược lại). Và khi đó lãi suất sẽ tăng lên vì chi phí huy động vốn của ngân hàng thương mại bị đội lên (phải dành một tỷ trọng vốn huy động được gửi vào NHNN với lãi suất thấp hơn lãi suất huy động). Nhưng ở đoạn sau đó, dường như tác giả lại hiểu rằng NHNN sẽ và nên dùng DTBB này để cho vay lại các ngân hàng nào có nhu cầu! Một cách hiểu lầm tai hại, cho dù có được biện minh dưới cái nhãn “lấy mỡ ngân hàng để nuôi ngân hàng”, vì đó không và chưa bao giờ là mục đích của công cụ DTBB của NHTW cả! Để đơn giản và dễ làm hơn rất nhiều, tại sao tác giả không đề xuất NHNN áp dụng tỷ lệ DTBB khác nhau cho từng (nhóm) ngân hàng khác nhau, tùy thuộc vào trạng thái sức khỏe và nhu cầu của từng (nhóm) ngân hàng? Làm thế cũng tức là gián tiếp lấy của kẻ giàu chia cho người nghèo rồi đấy (tuy tớ cũng phản đối luôn cách này vì nó rất hành chính, khiên cưỡng, chủ quan, dễ gây bất đồng vì cách phân hạng và nhu cầu v.v...). Lưu ý thêm rằng áp dụng tỷ lệ DTBB khác nhau cũng có thể bao hàm cả việc hạ tỷ lệ DTBB cho một số ngân hàng nào đó (trong khi tăng tỷ lệ DTBB của các ngân hàng khác), nhằm đạt được mục đích mà tác giả mong muốn là “lấy mỡ ngân hàng nuôi ngân hàng”, vì khi hạ tỷ lệ DTBB cho một số ngân hàng (trong khi tăng tỷ lệ DTBB của các ngân hàng khác) có nghĩa là các ngân hàng này có thêm vốn khả dụng trong tay (trong khi lượng vốn khả dụng ở các ngân hàng còn lại bị giảm đi, làm cho tổng lượng tín dụng trong nền kinh tế không thay đổi, khắc phục được tình trạng mà theo tác giả gọi là “sự lồi lõm của nguồn vốn”).
Việc đề xuất tăng lãi suất DTBB cũng vậy, có lẽ đều xuất phát từ cái suy nghĩ lấn cấn và sai lầm là làm sao cho vừa không làm tăng tổng cung tiền, vừa làm lãi suất giảm. Thực tế, DTBB hoặc là không hưởng lãi suất, hoặc là lãi suất cực thấp so với lãi suất thương mại thông thường (thế mới gọi là “bắt buộc”). Nếu tác giả cứ “thương” giới ngân hàng thương mại và muốn cứu giúp chúng bằng công cụ DTBB, cụ thể ở đây là nâng lãi suất trả cho DTBB, thì hành động này về bản chất cũng tương đương với việc hạ tỷ lệ DTBB. Nhưng như vậy, hành động này sẽ làm cho cung tiền tăng lên, vi phạm nguyên tắc chống lạm phát. Nếu tác giả lý luận rằng phải kết hợp cả 2 động thái – vừa tăng tỷ lệ DTBB, vừa tăng lãi suất DTBB – thì rốt cuộc thanh khoản (của 1 ngân hàng thương mại cụ thể nào đó hoặc toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại) có thay đổi gì đâu? Động thái đầu làm giảm thanh khoản trong khi động thái sau làm tăng thanh khoản, giả sử cùng một mức độ. Vậy thì công cụ DTBB không thể dùng trong trường hợp mà tác giả đang đề xuất, vừa giảm lãi suất, vừa giữ cung tiền không thay đổi (trừ trường hợp tớ đã nêu là áp dụng tỷ lệ DTBB khác nhau cho từng (nhóm) ngân hàng thương mại).
Để kết luận lại cả một bài viết rất dài của tác giả Hải Lý và của tớ nữa, cần nói rằng tác giả và nhiều người dường như quên rằng mục tiêu hàng đầu hiện nay của NHNN là chống lạm phát, và để chống được lạm phát thì cung tiền phải được thắt chặt (hơn). Hậu quả tất yếu và cái giá phải trả là lãi suất tăng vọt (cả lãi suất tiền gửi và cho vay), thanh khoản giảm sút, tổng phương tiện thanh toán hoặc tăng chậm hơn so với trước đó, hoặc giữ nguyên, hoặc thậm chí co hẹp lại, nhằm hút tiền từ lưu thông về két sắt của NHNN. Không có cách nào thực hiện được cả 2 mục tiêu mâu thuẫn cùng lúc: chống lạm phát và hạ lãi suất (tiền gửi).
Nếu lãi suất (tiền gửi) vì cách nào đó giảm đi thì có nghĩa áp lực lạm phát sẽ lại gia tăng, điều này luôn đúng ít nhất trong ngắn hạn, trong bối cảnh lạm phát đã nổ ra và ở mức cao như hiện nay. Tách biệt lãi suất tiền gửi và cho vay ở đây là tớ muốn nhấn mạnh đến khả năng là vẫn có thể làm cho lãi suất cho vay, chính xác hơn là chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và cho vay, giảm/hẹp đi một chút khi thực hiện những biện pháp “kỹ thuật” mà trong một buổi nói chuyện với TS Võ Trí Thành, từ này được ông đề cập đến, khi nói đến biện pháp khắc phục những bất hợp lý trên thị trường liên ngân hàng và trong hệ thống ngân hàng để giảm lãi suất cho vay (mà tiếc rằng thực sự tớ chẳng hiểu rõ khi gặng hỏi ông rằng cụ thể là thế nào!).


[1] Tất nhiên ở đây ta không tính đến trường hợp doanh nghiệp đã mang một số tiền nào đó chôn xuống đất hoặc cất trong két sắt. Ngoài chuyện hiển nhiên là doanh nghiệp nếu làm vậy sẽ bỏ phí cơ hội hưởng lãi nếu cho vay lại, chuyện này còn không được tính đến bởi vì nó không được đề cập đến trong khái niệm tổng phương tiện thanh toán mà tác giả nêu ra.

No comments:

Post a Comment

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2014, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam" forthcoming in "Emerging Markets Finance and Trade".

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).