Monday, 25 July 2011

Bó tay trước lạm phát nhập khẩu? (Lại viết về chủ đề lạm phát nhân chuyện này đang nóng)

Ngay mới gần đây có một số quan chức và chuyên gia vẫn lên tiếng cho rằng lạm phát ở Việt Nam có nguyên nhân (phần nhiều) là do giá cả thế giới tăng, làm tăng mặt bằng giá cả trong nước thông qua kênh nhập khẩu. Và vì là do giá cả thế giới tăng, và vì chúng ta có nền kinh tế có độ mở lớn (tỷ trọng xuất khẩu + nhập khẩu trên GDP lớn) nên chúng ta có muốn cũng chẳng làm gì được, vì đây là nguyên nhân khách quan.
Thực ra chuyện này chẳng phải là khách quan hoàn toàn, và ta cũng chẳng phải chịu bó tay hoàn toàn nếu thực sự muốn đối phó.
Để gợi mở vấn đề, hãy đi từ câu hỏi, tại sao ở một số nước trong khu vực và trên thế giới cũng có độ mở lớn không kém Việt Nam mà lạm phát của họ thấp hơn Việt Nam? Như tớ đã nói ở nhiều bài viết trước đây trên các loại báo chí ở Việt Nam và lặp lại tóm tắt ở đây rằng không thể đổ cho những lý do trời ơi đất hỡi như nào là ở họ không có chuyện “tát nước theo mưa”, nào là họ không bị nạn sâu bệnh, mất mùa, bão lụt v.v... là những cái lý do thường được các quan chức Việt Nam trưng ra.
Gạt bỏ những lý do khách quan, “tại thiên tai” vớ vẩn này thì ta thấy nổi lên một khác biệt về chính sách tỷ giá và xu hướng vận động của tỷ giá bản tệ so với USD giữa Việt Nam với các nước. Ở một số nước, ví dụ như Singapore, Chính phủ nước này dùng chính sách tỷ giá – để đồng đôla Singapore (SGD) lên giá so với USD – để chống/hạn chế lạm phát nhập khẩu. Kết cục là lạm phát có mặt ở quốc đảo này, nhưng với mức độ rất khiêm tốn so với của Việt Nam, là nước mà bản tệ (VND) có xu hướng luôn bị mất giá so với USD.
Như vậy, đặt ngược lại vấn đề, nếu Việt Nam cũng duy trì một chính sách tỷ giá để cho VND lên giá so với USD (hoặc tối thiểu là giữ ổn định tỷ giá) thì cũng sẽ góp phần giảm nhiệt lạm phát ở Việt Nam. Nói cách khác, đây là một trong những cách để đối phó với lạm phát nhập khẩu, và, vì thế, không đúng như nhiều người nói rằng/tin rằng lạm phát nhập khẩu là chuyện khách quan, không can thiệp được.
Đương nhiên, tấm huy chương nào cũng có 2 mặt. Dùng chính sách tỷ giá để kìm chân lạm phát sẽ làm cho VND lên giá so với USD, tức là ảnh hưởng tiêu cực đến tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu của Việt Nam. Do đó, đôi khi cái giá phải trả để đổi lấy lạm phát trong chừng mực kiểm soát được lại quá lớn, nhất là trong mắt một số nhóm lợi ích nào đó.
Vì vậy, tuy tỷ giá là một công cụ để chống nhập khẩu lạm phát, nhưng có nên dùng nó để kiềm chế lạm phát không, và dùng ở mức độ nào, như thế nào, luôn là một câu hỏi khó, ít có lời giải đáp rõ ràng đốii với những nhà hoạch định chính sách.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).