Wednesday, 20 July 2011

Xanh vỏ đỏ lòng

Vừa rồi tớ về Hà Nội, đến gặp một số nhân vật hữu quan về chuyện chính sách ổn định kinh tế vĩ mô. Điều rút ra được từ những cuộc gặp này là “gay go”. Vì:
1.       Xem ra chỉ có mỗi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là còn “kiên định” với chính sách thắt chặt tiền tệ. Nhưng bản thân NHNN cũng dường như hiểu “thắt chặt” có nghĩa là giới hạn tăng trưởng tín dụng, chứ không phải là để lãi suất lên cao đến mức cần phải có, cần phải như thế mới kiềm chế được lạm phát. Ngược lại, NHNN dường như đã và đang chủ trương dùng các biện pháp (hành chính) để (cố gắng... vô vọng) hạ lãi suất xuống, đáp ứng tiếng gọi “thống thiết” của giới doanh nghiệp và không ít quan chức. Có lẽ bản thân NHNN cũng nghĩ rằng lãi suất hiện nay là quá cao, có hại cho nền kinh tế, và trong thâm tâm cũng muốn hạ lắm, hạ sớm, nhưng chỉ e vì vấp phải sự phê phán, phản đối từ giới quan sát nước ngoài (rằng nới lỏng quá sớm) và hậu quả là một lần nữa đánh mất lòng tin của công chúng vào VND nói riêng, vào chính sách của mình nói chung.
2.       Các Bộ, cơ quan quản lý nhà nước khác dường như chẳng hiểu gì về những vấn đề như lạm phát, lãi suất, chính sách tiền tệ và tài chính, đặc biệt là mối quan hệ hữu cơ giữa chúng. Một mặt thì họ vẫn cho rằng/ủng hộ cần phải tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ (theo đúng chủ trương của Thủ tướng nhé!) Nhưng mặt khác (trên thực tế), họ hoặc là thiếu kiến thức kinh tế vĩ mô căn bản nên hiểu lỗ chỗ, lung tung, râu ông nọ cắm cằm bà kia, hoặc là chỉ hiểu được phần ngọn của vấn đề. Ví dụ, người thì cho rằng lạm phát là do nhập siêu, người thì đổ tại đầu tư công không hiệu quả vào những cái thùng không đáy như Vinashin, còn người khác thì vô tư cho rằng lạm phát là do lãi suất cao gây ra v.v... Điều đáng nói hơn là vì hiểu sai, phiến diện, không nắm được tận gốc của vấn đề nên người ta đều cho rằng lãi suất hiện đang cao một cách không cần thiết (là nạn nhân vô tội của chính sách tiền tệ thắt chặt của NHNN), chỉ có mỗi tác dụng là gây hại cho doanh nghiệp và nền kinh tế thôi chứ chẳng giúp ích được cái gì sất! Có người (chắc cũng nhiều người giống vậy) còn “tư duy logic” đến nỗi vạch ra rằng để kiềm chế lạm phát thì chủ trương của Chính phủ nói chung và NHNN nói riêng là thắt chặt tăng trưởng tín dụng chứ không phải là kiểm soát lãi suất (ý nói là để nó lên cao là điều không mong muốn, ngoài dự định). Ngoài ra, hầu như mọi người này đều có cùng một quan điểm với mấy ông “chuyên ra” vào hùa với mấy ông doanh nghiệp “kêu cứu” rằng lãi suất đi vay trên 20%, lợi nhuận làm ra dưới 20% thì doanh nghiệp chỉ có lỗ và đóng cửa.
3.       Lạ thế! Lẽ ra họ cần phải hỏi vặn lại mấy ông doanh nghiệp này rằng, một là, các doanh nghiệp có được tăng/tăng được giá bán hàng hóa, dịch vụ của mình hay không? Nếu câu trả lời là có thì còn kêu ca nỗi gì nữa? Nước nổi thì bèo nổi, cứ thế mà suy ra là doanh nghiệp vẫn sống khỏe re.
4.       Và hai là (câu hỏi này để dành cho những ai nói là giá bán có tăng nhưng không tăng kịp với tốc độ tăng lãi suất), “lợi nhuận” mà doanh nghiệp nói là loại lợi nhuận gì? Ví dụ doanh nghiệp của tôi chỉ có vốn do tôi bỏ ra là 300 triệu VND, đi vay ngân hàng 700 triệu VND nữa, tạo doanh thu là 1,010 tỷ đồng, trừ hết chi phí nguyên vật liệu, điện nước, thuế má, kể cả lãi và vốn vay, doanh nghiệp tôi vẫn bỏ túi được 100 triệu VND lợi nhuận ròng. Đúng là nếu so với doanh thu 1 tỷ thì tỷ suất lợi nhuận ròng chỉ đạt gần 10%/năm, tức là quả có thấp hơn nhiều lãi suất đi vay thật (giả sử là 22%/năm). Thế thì doanh nghiệp của tôi lỗ vốn à? Đương nhiên không! Thứ nhất, 100 triệu lãi ròng này đúng nghĩa là lãi ròng, nghĩa là khoản còn lại sau khi đã trả hết mọi chi phí, thuế má kèm lãi và vốn. Vì thế, không thể nói rằng tiền lãi làm ra không đủ trả nợ ngân hàng. Thứ hai, quan trọng hơn, 100 triệu lợi nhuận ròng trên nếu so với số vốn của tôi tự bỏ ra thì bằng 100/300=33.33%, tức là tỷ suất lợi nhuận này cao hơn nhiều lãi suất đi vay (chứ chưa nói là lãi suất gửi vào ngân hàng, vốn thấp hơn mức 22% lãi suất đi vay). Thế thì xin các ông đừng có lý luận rằng với lãi suất cao như hiện nay thì thà đem vốn của mình gửi vào ngân hàng lấy lãi còn lợi hơn là tiếp tục sản xuất, kinh doanh nhé!
5.       Với những hiểu biết sai, lệch như vậy, lại được nghe “khuyến mại” miễn phí (hoặc có phí được trả) từ giới doanh nghiệp về câu chuyện lãi suất cao nên càng sản xuất kinh doanh thì càng lỗ, dễ hiểu là các vị hữu trách này đều lên tiếng muốn/cho rằng NHNN nên hạ lãi suất. Mà họ là những người trong cuộc đấy nhé!
6.       Tớ cũng nghe thêm và đọc được một loại kêu gọi/vận động nữa là vì chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm nay tối đa là 20% mà 6 tháng đầu năm nay chỉ đạt được 7%-8% gì đó nên dư địa chính sách tiền tệ còn nhiều và NHNN nên “phấn đấu” đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng này để nào là đáp ứng thanh khoản, nào là phục hồi sản xuất. Lại lạ thế đấy! Thứ nhất, cái mục tiêu này chỉ là một mục tiêu cảm tính, chẳng có một cơ sở tính toán thuyết phục nào cho thấy để khống chế lạm phát dưới mức, ví dụ, 7%/năm trong năm nay thì tăng trưởng tín dụng chỉ được dưới 20%. Thế sao, để cho chắc ăn, ngay từ đầu NHNN không đặt béng luôn một cái mục tiêu cao hơn nữa, ví dụ 25%, để tha hồ mà rộng cẳng điều chỉnh sau nay? Thứ hai, đến thời điểm này dường như người ta đã xao nhãng, quên biến mục tiêu và nhiệm vụ của chính mình đặt ra là kiểm soát lạm phát (mặc dù mục tiêu lạm phát cũng đã và đang phải điều chỉnh đến nỗi mà nó không còn (nên) được gọi là mục tiêu nữa!), mà chỉ chăm chăm vào chuyện làm thế nào để “giải cứu” giới doanh nghiệp vì họ kêu gào thảm thiết về chuyện lãi suất quá.
7.       Tớ cũng hỏi qua về chuyện cắt giảm đầu tư công, nhưng xem ra thực sự là người ta không muốn cắt giảm hoặc chỉ làm để đối phó, hoặc đơn giản hơn là không có một định nghĩa rõ ràng thế nào là cắt giảm đầu tư công và tiêu chí để tính mức cắt giảm thực tế được bao nhiêu.
8.       Tóm lại, nhìn từ phía người trong cuộc, trên bề mặt, người ta vẫn tỏ ra/nghĩ rằng đang trung thành với chủ trương thắt chặt của Chính phủ, nhưng trên thực tế thì hoặc là do không hiểu biết, hoặc là cố tình, mà họ đang cùng với giới doanh nghiệp và các nhóm lợi ích gây áp lực lên NHNN buộc NHNN phải nới lỏng chính sách tiền tệ, hạ lãi suất (và bản thân NHNN cũng có phần nao núng, có phần cho rằng là đúng đắn, cần thiết). Cứ cái tình hình này thì tớ cho rằng NHNN sẽ sớm muộn nới lỏng chính sách tiền tệ của mình (tăng cung VND, hạ lãi suất, (và kết quả là) phá giá VND). Rồi cộng thêm với tình trạng cắt giảm đầu tư công có như không nữa chứ! Lúc đó thì tớ không muốn nghĩ thêm nữa vì thấy tình hình sẽ rất là “gay go”, với rất nhiều bất trắc về chính sách bắt nguồn từ khủng hoảng mất lòng tin, phá giá nội tệ, lạm phát phi mã v.v... buộc người ta phải hành động một cách cực đoan và tình thế hơn nhiều.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).