Wednesday, 17 August 2011

Nợ công của Việt Nam – Lo sợ do sai lầm ngớ ngẩn

Đọc bài này mới thấy cái nguy của những tay mơ viết về kinh tế, nhất là các vấn đề to tát (http://vneconomy.vn/20110813041842652p0c6/hau-hoa-no-cong-va-bai-hoc-tu-luoi-dao-sp.htm). Trước tiên, tớ cần phải rào ngay rằng tớ không có ý định bình luận con số nợ tuyệt đối và tương đối hiện nay của Việt Nam là cao hay thấp, mà chỉ tập trung vào việc chỉ ra cái sai lầm ngớ ngẩn của tác giả bài viết trên, hoặc là của một nguồn cung cấp số liệu nào đó mà tác giả sử dụng nhưng không thể tự mình biết là đúng hay sai (tớ thiên về cái sau này hơn, vì thấy có một số báo khác cũng có bài viết sử dụng số liệu tương tự).
Bài báo cho biết: “Theo Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, năm 2007, nợ công là 33,8% GDP nhưng từ 2008, tỷ lệ này nâng lên 36,2%; 2009: 41,9%; 2010: 56,7%. Năm 2011, Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) dự kiến nợ công sẽ đạt 1.375 nghìn tỷ đồng, tương đương 58,7% GDP. Như vậy, từ năm 2007 đến hết 2011, nợ công đã tăng khoảng 25%, đạt mức trung bình 5%/năm. Với đà tăng này, chỉ cần 8 năm nữa, nợ công Việt Nam sẽ lên tới 100% GDP”.
Xin thưa các đồng chí nhà báo là nợ công tăng trung bình 5%/năm trong 4 năm qua thì với đà tăng đó cũng không thể có con số nợ công bằng 100% sau 8 năm nữa. Lý do rất đơn giản là GDP là một con số biến động theo năm (thường là tăng lên, ở trường hợp của Việt Nam trong mấy thập kỷ qua), chứ không phải là một con số tuyệt đối, bất biến qua các năm. Trong 4 năm qua, GDP của Việt Nam tăng trưởng với tốc độ trung bình trên thực tế (chắc là) trên 6%/năm, lớn hơn tốc độ tăng trưởng nợ công. Nếu trong vòng 8 năm nữa mà cả nợ công và GDP đều tăng trưởng như với tốc độ trung bình trong 4 năm qua thì cái thương số tổng nợ công/GDP làm sao mà tăng lên sau 8 năm được hở giời? Nếu GDP có tăng trưởng bằng với tốc độ tăng trưởng nợ công (tức là 5%/năm) thì tỷ lệ nợ công trên GDP sẽ là không đổi trong suốt thời gian nghiên cứu. Còn nếu GDP chỉ tăng trưởng ở mức thấp hơn 5%/năm thì cũng “còn khướt” mới đến thời điểm mà nợ công bằng 100% GDP, chứ không phải 8 năm đâu ạ (xem thêm tính toán ở phần sau).
Còn nếu các đồng chí (hoặc ai đó như Ủy ban Giám sát tài chính hoặc Bộ Tài chính) lại ngây thơ hơn, đi tính thời gian cần thiết để con số nợ công tương đối tăng từ mức 58.7% GDP lên 100% GDP thì cũng không thể ra con số 8 năm được (mặc dù phép tính này là hoàn toàn không có ý nghĩa). Cụ thể (chỉ để minh họa về mặt toán học), để một con số (trị tuyệt đối) 58.7 tăng lên thành 100 với tốc độ tăng trung bình 5%/năm thì cần log(100/58.7)/log(1.05) = 10,9188 năm.
Phép tính trên chỉ để minh họa thời gian cần thiết để một con số tuyệt đối nào đó đạt đến một giá trị tuyệt đối nào đó với tốc độ tăng trung bình hàng năm cho trước. Quay lại với trường hợp tỷ trọng nợ công trên GDP của Việt Nam. Như nói ở phần trên, vì GDP cũng tăng trưởng nên thời gian cần thiết để tỷ trọng nợ công của Việt Nam đạt đến 100% GDP từ mức 58.7% GDP sẽ phải dài hơn số 10,9188 năm tính ra như ở trên. Tốc độ tăng GDP trung bình hàng năm càng cao (nhưng dưới 5%/năm) thì thời gian cần thiết càng phải dài ra. Nếu “chẳng may” mà GDP tăng trưởng với tốc độ trung bình lớn hơn 5%/năm thì sẽ chẳng bao giờ có cái thời điểm mà ở đó nợ công bằng 100% GDP cả, vì lúc đó đơn giản là nợ công liên tục giảm đi so với GDP qua các năm.
Khổ lắm cơ! Sai sót một cách ngây ngô như thế nhưng đã đủ làm cho khối người sợ rồi.
Có bạn đọc nào đủ tốt thì giúp tớ chuyển cái comment này đến những nơi cần đến với. Tớ ngán cái việc tự mình gửi comment đến giới báo chí lắm rồi.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).