Friday, 9 December 2011

Cần cẩn trọng xem xét kỳ vọng lạm phát (bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=232220

07:34 | 10/12/2011

Lạm phát trong mấy tháng nay đã giảm tốc, với tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) hàng tháng ở mức dưới 1%/tháng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là 2 tháng gần đây (nhỏ hơn 0,4%/tháng). Có lẽ, dựa trên sự giảm tốc này mà Chính phủ và nhiều chuyên gia đã đặt ra mục tiêu lạm phát dưới 2 chữ số trong năm sau, và Chính phủ cũng đồng thời tỏ ra hết sức tự tin với mục tiêu này.

Điều đáng nói là mục tiêu này lại được đem ra làm cơ sở để điều chỉnh (chính xác là nới lỏng) chính sách tiền tệ, với kế hoạch tăng trưởng tín dụng do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố ở mức 15% - 17% trong năm 2012, cao hơn mức mục tiêu 12% năm 2011. Song song với đó, trần lãi suất huy động cũng đang được xem xét giảm từ mức 14%/năm như hiện tại xuống còn 12%, (như dư luận đang đồn đoán).

Như vậy, có thể thấy đang có sự nhầm lẫn giữa nguyên nhân và kết quả.

Lạm phát ở Việt Nam có phần lớn là nguyên nhân tiền tệ, mà trực tiếp là do chính sách tiền tệ nới lỏng gây ra. Lạm phát già nửa đầu năm nay rất cao là vì mức tăng trưởng tín dụng quá lớn, trên 30%, trong năm 2010 gây ra. Lý do lạm phát được kiềm chế “chỉ” ở mức 18% như năm nay là một phần lớn sự thức tỉnh kịp thời của Chính phủ đã hạn chế tăng trưởng tín dụng (tuy vẫn còn tăng trên 10% tính đến tháng 11).

Có điều, dường như giới hữu trách và nhiều chuyên gia đang có quan niệm ngược lại rằng chính sách tiền tệ phải bám sát mục tiêu và diễn biến của lạm phát. Dường như vẫn còn thống trị quan điểm rằng lạm phát là yếu tố khách quan, do những nguyên nhân từ bên ngoài, nào là giá thế giới tăng, nào là thiên tai bão lụt v.v... Song hành với nó vẫn là quan điểm phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, đặc biệt là từ đóng góp của tăng trưởng tín dụng, ngoài mục đích đảm bảo an sinh, còn để tăng cung, giảm áp lực lạm phát.

Dễ hiểu, từ trên quan điểm sai lầm này, kế hoạch tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn và động thái hạ trần lãi suất huy động đã được chính thức công bố.

Điều nguy hiểm đi kèm với quan điểm sai lầm này là sự tăng mạnh kỳ vọng lạm phát. Kỳ vọng lạm phát là yếu tố hun nóng thêm câu chuyện lạm phát và đồng thời cũng làm câu chuyện lạm phát chậm giảm nhiệt. Trong hoàn cảnh đầy bất trắc của kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước, cộng thêm chính sách vĩ mô sai lầm và cách điều hành thiếu nhất quán của các cơ quan chức năng, cũng như mức lạm phát hiện tại vẫn ở mức cao (mặc dù người ta đang cố làm mờ nó đi bằng nhiều thủ thuật, trong đó có việc nhấn mạnh vào tốc độ tăng chậm lại của lạm phát theo tháng), dư luận vẫn kỳ vọng rằng lạm phát sẽ còn đó, áp lực gây ra lạm phát vẫn chưa giảm đi nhiều, kéo sang cả năm 2012 khi chính sách tiền tệ - cái van điều chỉnh lạm phát – vẫn được mở rộng.

Tất nhiên, Chính phủ đã và đang có nhiều động thái để cố gắng dẹp bỏ kỳ vọng lạm phát này, nhưng chủ yếu là bằng các liệu pháp tinh thần, bằng sự thuyết phục, chứ không phải bằng những giải pháp kinh tế hữu hiệu. Những tuyên bố như phấn đấu (và hoàn toàn tự tin sẽ) kiềm chế lạm phát ở mức 1 con số, triển vọng ổn định tỷ giá là sáng sủa vì thu chi ngoại tệ về cơ bản là không biến động nhiều v.v... là điều thường được nghe thấy. Nhưng, lòng tin vào chính sách và khả năng điều hành chính sách của Chính phủ đã không ít lần bị tổn thương vì sự bất nhất cũng như sự bất lực, và còn vì sự thực rằng chúng ta không có, không còn nhiều nguồn lực, nhiều dư địa chính sách nữa.

Bởi vậy, hoàn toàn không có gì đảm bảo rằng nếu sang năm 2012, khi NHNN cứng nhắc bơm tiền ra nền kinh tế với mức theo kế hoạch, mục tiêu lạm phát dưới 10% sẽ thực hiện được.

Cộng thêm vào đó, hành động hạ trần lãi suất huy động quá sớm – thực chất là một cách san sẻ cưỡng bức gánh nặng thua lỗ, khó khăn của giới doanh nghiệp và ngân hàng lên vai người gửi tiền – trong khi kỳ vọng lạm phát vẫn còn đó, triển vọng về lạm phát vẫn còn rất mù mờ sẽ càng làm nạn chuyển đổi tài sản từ VND sang vàng, ngoại tệ, bất động sản hoặc các tài sản có giá khác. Điều này, đến lượt nó, lại làm tăng áp lực lạm phát gây ra bởi tăng vòng quay tiền, giảm thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, tăng áp lực bơm thêm tiền từ NHNN. Bởi vậy, mục tiêu lạm phát dưới 10% càng trở nên mong manh hơn.

Gộp tất cả các vấn đề lại, có thể thấy chúng ta đang đi những nước cờ mang tính may rủi là chính chứ không phải xuất phát từ sự tính toán cẩn trọng trên cái nền kiến thức và hiểu biết đầy đủ, sâu sắc. Để cho khách quan, và cũng là thay cho kết luận, xin trích dẫn lời của Giám đốc điều hành Ngân hàng Thế giới phát biểu hôm 3.12 vừa qua rằng: “Lúc này vẫn còn quá sớm để Chính phủ Việt Nam đảm bảo sự tự tin với mục tiêu đưa lạm phát 2012 xuống một con số. Do đó, Chính phủ cần cẩn trọng xem xét kỳ vọng của mình có đạt được hay không”.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).