Saturday, 31 December 2011

Điều hành kinh tế vĩ mô năm 2012 – Đừng để biện pháp hành chính thành chính thống (Bai dang tren Dai bieu Nhan dan)

http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=234276

Năm 2011 sắp khép lại với nhiều dư âm. Trong số này phải kể đến những cái “lần đầu tiên”. Lần đầu tiên cụm từ “bình ổn giá vàng” được chính thức đưa ra và thị trường vàng bị đưa vào “kỷ cương” với hàng loạt biện pháp hành chính cấm đoán, hạn chế hòng làm cho giá vàng trong nước tiếp cận sát sao với giá vàng thế giới. Lần đầu tiên, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mạnh tay xử lý hành động vượt trần lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại bằng cách buộc thôi việc cán bộ liên quan. Tương tự, lần đầu tiên trên thị trường ngoại hối, cả chính thức lẫn tự do, các giao dịch ngoại tệ trái phép, vượt trần cũng bị chế áp mạnh tay như xử lý người quản lý hoặc tịch thu tang vật và xử phạt.

Trong các lĩnh vực khác, các biện pháp hành chính tuy phần lớn không phải là lần đầu tiên, nhưng đều có đặc điểm là cũng được tăng cường về mức độ và tần suất sử dụng. Ví dụ như chuyện kiểm soát giá cả trong nỗ lực kiềm chế lạm phát. Những biện pháp như bắt buộc các quầy hàng niêm yết giá, cho doanh nghiệp thương mại vay với lãi suất 0% để doanh nghiệp tích trữ hàng bình ổn, không cho các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đầu mối tăng giá các hàng hóa và dịch vụ của mình v.v... là một trong nhiều biện pháp hành chính đã và đang được ưa chuộng như là một công cụ vĩ mô (chứ không phải là vi mô nữa) để kiềm chế lạm phát.
Các biện pháp hành chính trên được ưa dùng, thậm chí còn bị lạm dụng vì tính dễ dàng áp đặt và thực thi ngay tức thời nhằm vá ngay được những lỗ hổng trong hệ thống pháp lý, trong nền kinh tế mà thông thường để giải quyết được bằng những công cụ và biện pháp kinh tế thì cần phải có thời gian và phải có năng lực thi hành tốt. Với lợi thế đó, các công cụ và biện pháp hành chính đã và đang dường như trở thành những công cụ và biện pháp chính thống để giải quyết các vấn đề kinh tế ở Việt Nam, vốn đòi hỏi phải có những công cụ và biện pháp kinh tế để giải quyết được tận gốc rễ của vấn đề.

Tuy nhiên, một trong những lý do hiển nhiên để các công cụ hành chính không nên được lạm dụng là tính không minh bạch và không bền vững của chúng. Vì đã là công cụ hành chính nên chúng sẽ phải kèm theo các biện pháp cấm đoán, hạn chế, cấp phép, giám sát và xử phạt v.v... Những quyền này sẽ tập trung vào tay một số người/nhóm người, tạo thành đặc quyền, đặc lợi, tùy tiện hành xử cho họ mà không dễ bị phát hiện và xử lý bởi pháp luật hiện hành. Đây cũng là những kẽ hở để các đối tượng bị chế tài “lách” qua bằng các thủ đoạn thông đồng, hối lộ v.v... Các biện pháp hành chính cũng không thể kéo dài, không có tính bền vững vì các đối tượng bị chế tài luôn có những động cơ khuyến khích tìm ra những kẽ hở hợp pháp hoặc thậm chí là bất hợp pháp để qua mặt được các cơ quan chức năng nhằm thu được lợi ích mong muốn. Các biện pháp hành chính còn làm méo mó thị trường, giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư.

Ví dụ cho tình trạng không minh bạch và hiệu quả của các công cụ hành chính có nhiều. Ở đây có thể nêu ra chuyện áp đặt trần lãi suất huy động. Sau khi NHNN mạnh tay xử lý các tổ chức tín dụng vi phạm quy định trần lãi suất huy động, tình hình chạy đua lãi suất nhốn nháo trước đây đã tỏ ra tĩnh lặng hơn, nhưng chỉ được một thời gian ngắn, một hai tháng, rồi mới gần đây báo chí lại vạch ra những bằng chứng cho thấy làn sóng ngầm trong cuộc đua vượt trần lãi suất huy động chưa bao giờ ngừng nghỉ và đang có dấu hiệu trở lại mạnh.

Không ít người đã cố gắng nhìn nhận vấn đề này bằng một cái nhìn đơn giản hóa, tuồng như tình trạng vượt rào lãi suất chỉ là một hiện tượng cá biệt, mang tính chụp giật của một số ít ngân hàng dưới những quy kết như “cạnh tranh không lành mạnh”. Lẽ ra, người ta phải thấy rằng trong bối cảnh lạm phát ở mức cao gần nhất thế giới trong năm nay, 18,5%/năm, trong khi tình hình lạm phát trong năm sau vẫn còn là một dấu hỏi lớn, thì việc áp đặt trần lãi suất huy động 14%/năm (thậm chí người ta còn đang xem xét hạ tiếp xuống nữa), là một việc làm rất duy ý chí, thiếu khôn ngoan và thận trọng. Trong bối cảnh như thế này, lẽ ra điều cần làm là phải nhấn mạnh vào việc khôi phục và củng cố lòng tin vào VNĐ, vào hệ thống ngân hàng, bằng những chính sách và công cụ kinh tế như chính sách tiền tệ (thắt chặt), lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng bằng việc tăng cường công tác quản trị rủi ro, góp phần làm giảm nhiệt lạm phát rồi từ đó mới tính đến chuyện nới lỏng chính sách tiền tệ để làm giảm lãi suất huy động và cả cho vay. Nếu làm được như vậy rồi thì việc thi hành trần lãi suất huy động vừa là một việc làm vô ích, vừa thậm chí là có hại vì tiếp tục làm tăng áp lực lạm phát (tiền thoát ra khỏi hệ thống ngân hàng), làm lợi cho ngân hàng nào “lách” được trần lãi suất này.

Cũng rất may là người đứng đầu Chính phủ đã sớm nhận thức và vạch ra được một số bất ổn trong công tác điều hành kinh tế vĩ mô, nhất là liên quan đến ngành tài chính, ngân hàng. Thủ tướng đã có những nhận định rất đáng hoan nghênh như không được chủ quan với nguy cơ lạm phát cao sẽ quay trở lại (trong khi rất nhiều người tự tin với dự báo lạm phát dưới 10%/năm trong năm tới); và giảm lãi suất cho vay (chứ không phải lãi suất huy động như nhiều người đang vận động) theo sát diễn biến của lạm phát (tức là chỉ giảm lãi suất khi lạm phát đã giảm, chứ không phải mù quáng giảm lãi suất để “cứu” doanh nghiệp như người ta đang hô hào).

Như vậy, nếu những chỉ đạo trên đây của Thủ tướng được hiểu và chấp hành nghiêm túc thì có thể thấy một số trong những biện pháp hành chính của NHNN được áp dụng trong thời gian vừa qua là biện pháp “quẫn”, thậm chí là sai lầm. Nếu đã trót ban hành và thực thi rồi thì rất nên có ngay lộ trình triệt thoái sớm nhất có thể, và tuyệt đối không nên tiếp tục áp dụng thêm với tư cách là các công cụ chính sách trong thời gian tính bằng nhiều tháng nữa.

Điều tương tự cũng sẽ đúng với nhiều biện pháp hành chính khác đã và đang được áp dụng tại Việt Nam. Gốc rễ của các vấn đề tồn tại vẫn là những bất ổn, yếu kém mang tính kinh tế và chỉ có thể giải quyết triệt để bằng các biện pháp mang tính kinh tế. Đây cần phải được coi là một định hướng quan trọng trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô năm 2012 mới mong đạt được một cách bền vững những mục tiêu vĩ mô mà Chính phủ vạch ra.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).