Sunday, 18 December 2011

Đồng chí Thủ tướng kính yêu đã ủng hộ tớ (một phần) đấy nhé!

2 bài viết trước của tớ về chủ đề lạm phát và lãi suất đã bị rất nhiều đồng chí nhân dân (hay quan chức nữa, tớ cũng chả biết) phang cho tơi tả (mời các đồng chí xem phần comment trên VEF và đâu đó, như của Vietstock forum). Chủ yếu vẫn là phang cái quan điểm của tớ rằng lạm phát cao và kỳ vọng lạm phát vẫn còn đó thì đừng có dại dột, mạo hiểm mà đi hạ lãi suất huy động và/hoặc nới lỏng cung tiền. Các đồng chí này cho rằng lạm phát là do nhiều yếu tố khác tạo ra, chứ không phải là do chủ yếu bởi chính sách tiền tệ nới lỏng như tớ chỉ ra. Vì thế, không nên chỉ tập trung vào chính sách tiền tệ, và nếu tiếp tục duy trì lãi suất cao thì chỉ có làm cho doanh nghiệp phá sản và, do đó, nào là lạm phát sẽ tăng lên (vì cung giảm đi), nào là an sinh xã hội giảm v.v...
Hôm nay tớ mới đọc được cái tin về Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành ngân hàng năm 2012 được đồng chí Thủ tướng kính yêu và lỗi lạc của chúng ta tham dự và chỉ đạo (http://www.tuoitre.vn/Giam-lai-suat-cho-vay-tu-dau-nam-2012/7562764.epi).
Theo báo chí đưa tin, đồng chí Thủ tướng đã rất sáng suốt (giống hệt tớ!) khi nhận định: “Xét cho cùng lạm phát là do tiền". (Đồng chí nào nghi ngờ rằng tớ không sáng suốt đến độ nói huỵch toẹt rằng lạm phát CHỦ YẾU là do NHNN đã tăng cung tiền quá mức thì đợi xem nhé. Đầu tuần trước tớ đã viết hẳn một bài riêng về cái kết luận này và gửi cho VEF, nhưng rất tiếc là họ không đăng với lý do lãng xẹt rằng thì là mà. Tớ đã gửi đi nơi khác, nhưng nếu ở đó họ cũng không đăng nốt thì tớ sẽ post lên blog này vậy). Các đồng chí lưu ý thêm là đồng chí Thủ tướng đã không một lời đề cập đến các yếu tố khác vẫn thường được cho là những nguyên nhân gây ra lạm phát.
Đồng chí Thủ tướng kính yêu cũng đã nhấn mạnh rằng: “Chính sách tiền tệ phải phục vụ mục tiêu kiềm chế lạm phát. Do vậy, Thủ tướng gợi ý tổng dư nợ tín dụng năm 2012 chỉ nên tăng khoảng 15%, thay cho mức 15-17% mà Ngân hàng Nhà nước đề xuất”. Với cái gợi ý này, đồng chí Thủ tướng đã sáng suốt cụ thể hóa quan niệm của mình rằng “lạm phát là do tiền”.
Tớ cũng thở đánh phào một phát khi đồng chí Thủ tướng cho rằng không có lý do gì không hạ được lãi suất cho vay xuống khi liên tục trong sáu tháng qua, chỉ số giá tiêu dùng tăng không quá 1%. Nói tớ thở phào vì đồng chí Thủ tướng đã rất sáng suốt không ra lệnh cho NHNN tìm cách hạ lãi suất huy động, mà chỉ hạ lãi suất cho vay. Ấy thế mà chẳng hiểu làm sao dư luận và cả giới chuyên gia vẫn cứ nhăm nhăm cái chủ trương hạ lãi suất huy động, rõ là “trứng khôn hơn vịt”!
Tuy nhiên, cần phải nói đây cũng là lý do tớ chỉ nói đồng chí Thủ tướng ủng hộ tới một phần, vì tớ còn muốn NHNN không can thiệp vào lãi suất cho vay mà hãy để thị trường, ngân hàng thương mại làm cái việc tính đúng lãi suất cho vay từng đối tượng. Nếu tớ là 1 ngân hàng thương mại nào đó thì làm sao mà tớ cho vay một người/pháp nhân nào đó đầy rủi ro (tuy có tài sản thế chấp nhưng giá trị tài sản đó rất biến động. Đôi khi chẳng có tài sản thế chấp mà chỉ là tín chấp, hoặc do một ai đó chỉ đạo từ xa, buộc phải cho vay) với lãi suất chỉ cao hơn một chút lãi suất tính cho các đối tượng khác an toàn hơn, dưới cái “gông” trần lãi suất cho vay được?
Tớ chắc cũng sẽ còn sướng hơn nữa nếu đồng chí Thủ tướng sáng suốt chỉ đạo NHNN hạ thấp thêm nữa mục tiêu tăng tổng dư nợ tín dụng và cung tiền như đã chỉ đạo (15% tăng trưởng tổng dư nợ tín dụng), trừ khi đó chỉ là mục tiêu chứ không phải là sự cho phép hay bắt buộc NHNN thực hiện đúng bằng mọi giá, trong mọi hoàn cảnh (một thực tế đã thấy trong năm nay khi người ta thấy tăng trưởng tín dụng chỉ mới 12% so với mức mục tiêu 20% đặt ra đầu năm nên đòi NHNN nới lỏng tín dụng hơn nữa).
Tóm lại, từ nay tớ thề sẽ không được một phút lung lạc trước sức ép các đồng chí trong dư luận phang tớ, vì tớ chắc rằng đâu đó, đồng chí Thủ tướng anh minh vẫn theo dõi và đại để là ủng hộ tớ!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).