Friday, 6 January 2012

Có nên bảo hiểm đối với tiền gửi ngoại tệ? (Bai dang tren Dai bieu Nhan dan)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=234766
08:10 | 07/01/2012

Đóng góp vào dự thảo Luật Bảo hiểm tiền gửi (BHTG), một số người ủng hộ dự án luật rằng chỉ bảo hiểm đối với tiền gửi bằng VND, với luận điểm chính là chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam cấm sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam và không khuyến khích người dân tích trữ ngoại tệ mà nên bán lại cho ngân hàng. Vì vậy, quy định chỉ BHTG đối với VND nhằm mục đích quản lý ngoại hối, quản lý tỷ giá và tiến tới mục tiêu lâu dài chỉ sử dụng tiền đồng Việt Nam. Một trong số những người ủng hộ dự luật còn nhấn mạnh rằng thông lệ quốc tế cũng không có nước nào bảo hiểm tiền ngoại tệ cả.

Trong khi đó, có nhiều người hơn ủng hộ BHTG ngoại tệ và kim loại quý, với chất vấn rằng trong khi lượng ngoại tệ, vàng trong dân vẫn rất nhiều, sao không tận dụng để hút số tài sản này vào ngân hàng, để làm một kênh quản lý tốt hơn là để trôi nổi? Hơn nữa, họ lập luận rằng, do trên thực tế, dù là VND hay ngoại tệ, vàng đối với người gửi tiền đều là tài sản có giá trị như nhau, nên giải thích việc quy định như dự thảo luật không ảnh hưởng tới quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người dân là không thuyết phục.

Để đi đến kết luận liệu có nên bảo hiểm đối với tiền gửi ngoại tệ và kim loại quý hay không, trong bài này chúng ta bắt đầu từ mục đích chính của bảo hiểm đối với tiền gửi nói chung. BHTG được coi là một trong những công cụ an toàn tài chính để giảm thiểu khả năng xảy ra khủng hoảng hệ thống ngân hàng và những hậu quả to lớn của chúng lên nền kinh tế và ngân sách nhà nước. Nhờ có BHTG, rủi ro của một cuộc hoảng loạn tài chính bất ngờ có khả năng châm ngòi cho cơn rút tiền ào ạt dẫn đến mất khả năng thanh toán ngân hàng sẽ được giảm thiểu hoặc loại bỏ.

Ngoài mục đích ổn định khu vực tài chính, BHTG còn phục vụ một số mục đích khác như bảo vệ người gửi tiền quy mô nhỏ và tạo điều kiện để ngân hàng nhỏ cạnh tranh được với ngân hàng lớn khi rủi ro đổ vỡ của ngân hàng nhỏ đã được bảo hiểm, làm người dân yên tâm gửi tiền ở những ngân hàng nhỏ này. Với những mục đích như vậy, BHTG ở nhiều nước còn bao phủ không chỉ BHTG VND mà còn cả ngoại tệ. Thậm chí, con số các nước áp dụng BHTG ngoại tệ còn lớn áp đảo so với con số các nước không áp dụng. Đây là một thực tế khác hoàn toàn với nhận định của một số người rằng không có nước nào trên thế giới BHTG ngoại tệ. Trong một nghiên cứu của WB năm 2004, tính đến năm 2003 có 61 nước trong tổng số 93 nước trong phạm vi nghiên cứu có báo cáo rằng họ có BHTG ngoại tệ. Ngay trong khu vực, trong khi một số nước như Thái Lan và Singapore thì không có loại hình bảo hiểm này, một số nước khác như Philippine và Malaysia thì lại có.

Lý do để một số nước không áp dụng BHTG ngoại tệ thường không được biết rõ, nhưng đôi lúc, khi được tuyên bố, thì lại rất đơn giản. Ví dụ như Singapore, họ cho rằng vì lượng tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước này là tương đối nhỏ so với nội tệ nên họ không áp dụng BHTG. Điều này, xét đến những mục đích thiết lập BHTG ngoại tệ như nói ở trên, tỏ ra là hợp lý, vì với khối lượng tiền gửi ngoại tệ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng lượng tiền gửi của một nền kinh tế, khả năng mất thanh khoản của một ngân hàng nào đó lây lan ra toàn bộ hệ thống ngân hàng từ rủi ro khách hàng gửi ngoại tệ đổ xô đi rút tiền gửi ngoại tệ về là hầu như không có.

Như vậy, đối chiếu với Việt Nam, và xét đến hoàn cảnh lượng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm tới trên dưới 30% tổng khối lượng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng, nhu cầu BHTG ngoại tệ là có thật, để phòng tránh rủi ro của những cuộc đổ xô rút tiền gửi ngoại tệ khi có một biến cố nào đó. Với quy mô tiền gửi ngoại tệ (phản ánh mức độ đôla hóa của nền kinh tế) lớn như vậy thì khả năng giải quyết ổn thỏa, tránh một cuộc khủng hoảng ngân hàng khi không có bảo hiểm là khá mong manh. Lưu ý rằng, đây mới là lý do chính, đáng để lo ngại và đáng để xem xét liệu có nên áp dụng bảo hiểm hay không, thay vì những lý do khác như bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp của người gửi tiền hoặc để thu hút ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng v.v... như nói ở trên.

Nói cách khác, trong hoàn cảnh nạn đôla hóa vẫn còn tương đối trầm trọng, cũng như sự tồn tại và thống trị của quan niệm cần thu hút ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng, thì Việt Nam cần phải xem xét áp dụng bảo hiểm cho cả tiền gửi ngoại tệ với mục đích chính là phòng rủi ro mất thanh khoản hệ thống ngân hàng khi có biến cố người gửi tiền ngoại tệ đổ xô rút tiền.

Chỉ khi nào Việt Nam thi hành (được) triệt để chính sách giảm nạn đôla hóa bằng cách không khuyến khích người dân nắm giữ tài sản bằng ngoại tệ, kể cả dưới dạng tiền gửi ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng, làm giảm thiểu tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ trong tổng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng thì lúc đó mới không cần thiết áp dụng BHTG ngoại tệ. Ngay cả lúc đó, cần thay đổi quan niệm rằng thu hút tiền gửi ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng cũng là để giảm nạn đôla hóa, đơn giản vì khái niệm đôla hóa không phải là như vậy.

Ngoài ra, khi áp dụng BHTG ngoại tệ, điều cần lưu ý là chỉ nên bảo hiểm cho ngoại tệ, chứ không phải là kim loại quý như vàng, bạc... Một phần vì việc xác định giá trị của những loại tài sản này là khá phức tạp, tăng thêm chi phí và thời gian giao dịch. Hơn nữa, vì những kim loại này xét về mặt nào đó cũng là ngoại tệ nên người gửi hoàn toàn có thể quy chúng ra ngoại tệ để gửi vào ngân hàng, nhờ đó giảm thiểu chi phí và thời gian cho các bên liên quan.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).