Friday, 13 January 2012

Những tín hiệu tốt lành (Dang tren Dai bieu Nhan dan)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=235523

07:41 | 14/01/2012

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình đã đặt dấu chấm hết cho cuộc tranh cãi chính sách tiền tệ của NHNN sẽ đi về đâu, nên như thế nào trong năm nay. Đây chính là cơ sở để chúng ta dự cảm một triển vọng đáng an tâm hơn cho nền kinh tế Việt Nam so với thời điểm mới vài ngày trước đây, thay cho hàng ngàn phân tích, dự đoán đến từ khắp nơi cho đến nay.


Đã lâu lắm rồi chúng ta mới lại được nghe những lời phát biểu cần thiết và có trách nhiệm của những người có trách nhiệm đến vận mệnh kinh tế của đất nước.

Trong cuộc đối thoại trực tuyến với nhân dân qua Cổng thông tin điện tử Chính phủ sáng 12.1, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình, cho rằng, dù lạm phát trong 5 tháng cuối cùng của năm 2011 đều có mức thấp dưới 1%, nhưng đây chỉ là điều kiện cần. Để giảm lãi suất, cần phải hội tụ thêm nhiều yếu tố khác nữa. Bởi vậy, ít nhất trong 6 tháng đầu năm 2012, NHNN sẽ theo dõi sát sao tình hình và nếu có cơ hội thì mới thực thi việc giảm lãi suất được. Do đó, trần lãi suất 14% vẫn sẽ được giữ nguyên.

Và dường như Thống đốc Bình cũng là người lần đầu tiên (và là lần đầu tiên của ông) nói một cách thẳng thắn và công khai rằng: “Doanh nghiệp thiếu tiền thì kêu ngân hàng (ý nói đến chuyện kêu ca rằng lãi suất cho vay cao và khó vay được vốn ngân hàng), nhưng đôi khi doanh nghiệp cũng phải nhìn nhận lại bản thân. Nếu doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh thì lãi suất ngân hàng lên đến 25% vẫn không có vấn đề gì đáng ngại”.

Giải thích rõ hơn, ông nói: “Nếu doanh nghiệp có 2/3 vốn, 1/3 còn lại từ ngân hàng với lãi suất 25%/năm thì doanh nghiệp bình thường cũng quay vòng được vốn 3, 4 lần. Với lợi nhuận của mỗi vòng quay nhân với 3, 4 lần thì doanh nghiệp thừa sức trả được lãi suất cho ngân hàng, không những duy trì mà còn phát triển được sản xuất. Nhưng ở Việt Nam hiện nay, vốn vay từ ngân hàng của doanh nghiệp chiếm tới 80- 90%, nên khi thắt chặt tín dụng là gặp khó khăn”.

Với lời đáp ngắn gọn này, hẳn nhiên Thống đốc đã thẳng tay quẳng vào sọt rác lời kêu gọi rất “thống thiết” của không ít doanh nghiệp và các nhóm lợi ích đằng sau chúng về chuyện lãi suất cho vay cao (20% hoặc hơn) thì doanh nghiệp không thể làm gì để kiếm đủ lợi nhuận trả lãi vay ngân hàng, và, vì thế, không thể sống sót nổi. Và như vậy, ông cũng không có ý định mù quáng hạ lãi suất để cứu tất cả các doanh nghiệp, dù lành mạnh về tài chính hay không.

Phải nhìn nhận rằng để đến được với thông điệp trên, Thống đốc đã vượt qua được áp lực chống đối mạnh mẽ của một số nhóm lợi ích vận động hành lang ở khắp nơi có thể đòi NHNN phải hạ ngay lãi suất nói chung và lãi suất huy động vốn nói riêng, bằng việc nới lỏng trần lãi suất huy động (trước đây dự kiến từ 14%/năm xuống 12%/năm ngay trong tháng 12.2011).

Những nhóm lợi ích trên dường như tồn tại ngay trong bản thân NHNN vì dư luận cho rằng NHNN sắp hạ trần lãi suất hình như cũng xuất phát từ đây. Đó là chưa kể không hiếm quan chức cũng lên tiếng đòi phải hạ lãi suất để “cứu” sản xuất kinh doanh. Tất nhiên, ta cũng không thể loại trừ khả năng ngay chính bản thân Thống đốc Bình cũng đã từng nghĩ và muốn làm như thế.

Nhưng cho dù tình huống trước đây có thế nào chăng nữa thì cũng cần thấy thông điệp rõ ràng trên của ông Bình là điều hết sức đáng mừng, đánh dấu một sự chuyển biến lớn trong nhận thức và hành động nghiêng hẳn về lợi ích của cả nền kinh tế thay vì cho một số nhóm lợi ích đầy ảnh hưởng vẫn thường diễn ra như trước đây và hiện nay.

Với thông điệp trên, Thống đốc Bình đã đặt dấu chấm hết cho cuộc tranh cãi chính sách tiền tệ của NHNN sẽ đi về đâu, nên như thế nào trong năm nay. Đây chính là cơ sở để chúng ta dự cảm một triển vọng đáng an tâm hơn cho nền kinh tế Việt Nam so với thời điểm mới vài ngày trước đây, thay cho hàng ngàn phân tích, dự đoán đến từ khắp nơi cho đến nay.

Không còn mối nguy bị lái theo giọng điệu chủ quan, áp đặt, nhưng hời hợt về kiến thức, khả năng suy nghĩ của một số nhân vật có thế lực khi cho rằng lạm phát đã có dấu hiệu giảm nhiệt từ nửa cuối năm ngoái nên hoàn toàn có thể và cần thiết phải hạ lãi suất (cho vay và huy động), triển vọng ổn định kinh tế vĩ mô năm nay vì thế sẽ ít nhất sẽ bớt đi được một bất trắc về lạm phát, với rủi ro lạm phát tái hồi đã giảm thiểu do lãi suất không bị hạ xuống quá sớm, quá bất cẩn.

Nhưng cần nhấn mạnh rằng điều trên (bớt rủi ro lạm phát tái hồi) chỉ xảy ra khi và chỉ khi NHNN thật sự chân thành, nghiêm túc và (đủ quyền lực để) trung thành được với chính chính sách của mình như trong phát biểu của Thống đốc Bình. Chúng ta quả thật không muốn nghĩ đến và phải chứng kiến khả năng xấu sẽ xảy ra như đối với nhiều chủ trương, chính sách khác của Chính phủ, của NHNN.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).