Friday, 3 February 2012

Cách thức nhanh nhất, an toàn nhất để phục hồi và tăng trưởng bền vững (Bai dang tren Dai bieu Nhan dan)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=236868

07:23 | 04/02/2012

Cuối tháng 12.2011, Tổng cục Thống kê (TCTK) có đưa ra chỉ số hàng tồn kho đầu tháng 12 của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 23% so với cùng kỳ. Tuy theo đánh giá của TCTK đây là mức chưa phải là cao vì cùng kỳ năm trước chỉ số này là 127,9%, nhưng nhiều người lại có thêm một cái cớ rất lớn để kêu gọi cắt giảm lãi suất với mục đích, theo họ, để kích cầu cho doanh nghiệp, cũng như để doanh nghiệp tiếp cận được với nguồn vốn giá rẻ hơn nhằm giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào sản xuất kinh doanh. Khi doanh nghiệp tồn tại và mở rộng sản xuất được thì nền kinh tế mới thoát khỏi cái mà họ gọi là nguy cơ “lạm phát đình đốn”- lạm phát cao trong khi doanh nghiệp cắt giảm sản xuất, năng lực sản xuất bị phá hủy, thị trường hoảng loạn, nhập khẩu (và nhập lậu) tăng (vì thiếu hàng).

Đáng lưu ý là lời kêu gọi trên xuất phát không chỉ từ giới doanh nghiệp mà còn từ giới chuyên gia, đã tạo thêm áp lực nặng nề lên chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) theo hướng buộc phải hạ lãi suất (huy động và cho vay) trong bối cảnh lạm phát còn cao và triển vọng lạm phát thì mù mờ, còn hệ thống ngân hàng vẫn đang trong tình trạng rối bời với vấn đề thanh khoản và rủi ro đạo đức.

Nếu tỉnh táo và chịu khó suy nghĩ một chút sẽ thấy những điều vô lý trong các lập luận để đưa ra lời kêu gọi trên.

Thứ nhất, trong bối cảnh dư thừa năng lực sản xuất (ít ra là so với cầu hiện tại) làm tồn kho tăng lên, việc cần làm đầu tiên của doanh nghiệp là phải giảm giá bán để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, giảm thiểu tồn kho. Việc này tất nhiên có thể dẫn đến thua lỗ tạm thời cho doanh nghiệp, nhưng là việc bắt buộc phải làm và khả thi, ít rủi ro hơn là ngồi đó chờ đợi sự thay đổi trong chính sách vĩ mô, cụ thể trong trường hợp này là việc NHNN hạ lãi suất để kích cầu.

Tất nhiên, có không ít người vẫn hy vọng NHNN “lắng nghe và thấu hiểu” nỗi khổ của doanh nghiệp mà hạ lãi suất. Nhưng rất tiếc điều này hoặc là không luôn xảy ra như kỳ vọng, hoặc nếu có xảy ra thì cũng không phải ngay ngày mai, tuần tới, tháng tới. Kể cả nếu sớm xảy ra thì cầu hàng hóa cũng không vì thế mà tăng ngay, tăng vọt. Với những rủi ro và đầy rẫy bất trắc như vậy, việc để sự sống còn của mình vào tay người khác, nếu có, của các doanh nghiệp là điều chẳng khôn ngoan chút nào.

Thứ hai, trong bối cảnh hàng hóa đang tồn đọng, tiêu thụ chậm, doanh nghiệp nếu có vay ngân hàng thì là để cầm cự, với việc dùng vốn vay trang trải cho các nhu cầu cấp thiết như trả lương, thanh toán các đơn mua hàng, điện, nước, trả nợ… Có lẽ trừ một số hạn hữu, đa phần doanh nghiệp sẽ tránh đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, nhất là dựa vào vốn vay ngân hàng. Vì thế, lý do cần phải hạ lãi suất ngân hàng để doanh nghiệp tiếp tục được vay vốn giá rẻ nhằm duy trì được (quy mô) sản xuất, kinh doanh là vừa phi kinh tế, vừa rất nguy hiểm khi lãi suất được mù quáng hạ xuống. Nếu khi lãi suất hạ và doanh nghiệp quả thực lại dốc tiền vay vào mở rộng sản xuất, kinh doanh thì đương nhiên tình trạng dư thừa lại càng trầm trọng.

Về phía ngân hàng, trong bối cảnh dư thừa năng lực sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chậm, nếu là một ngân hàng/cán bộ ngân hàng làm ăn nghiêm túc và bài bản, họ sẽ hạn chế việc (tiếp tục) tài trợ cho vay doanh nghiệp nào đó ở trong tình trạng này, đặc biệt là khi doanh nghiệåp phải thở ô xy để cầm cự cho qua ngày (theo cách mô tả của nhiều người về các doanh nghiệp hiện nay).

Như vậy việc hạ lãi suất, nếu có, của NHNN cũng sẽ không đồng nghĩa với việc các ngân hàng thương mại sẽ nối lại cho vay các doanh nghiệp, hoặc sẽ cho vay với lãi suất thấp hơn (vì lãi suất cho vay sẽ phải được điều chỉnh theo mức độ rủi ro của doanh nghiệp, vốn là cái đã và đang tăng lên song song với tình trạng không thể tiêu thụ được sản phẩm) và doanh nghiệp sẽ duy trì được quy mô sản xuất, kinh doanh… như kỳ vọng của những người nói trên.

Thứ ba, chuyện tồn kho tăng cao không phải xảy ra đối với tất cả các ngành nghề, nhóm sản phẩm, mà chỉ có một số, trong đó có vật liệu xây dựng, sắt thép, xi măng… là hậu quả của không chỉ bởi cầu sụt giảm do thắt chặt chính sách tiền tệ mà (chủ yếu) còn tất yếu do sự phát triển quá nóng, theo phong trào từ một vài năm trước đây, bất chấp lời cảnh báo của không ít chuyên gia và các nhà phân tích thị trường. Như vậy sẽ là không đúng đắn và công bằng khi đổ lỗi cho chính sách tiền tệ và bỏ qua nguyên nhân chủ quan này, và không để kinh tế thị trường trừng phạt khi người ta đã bất chấp các nguyên tắc kinh tế thị trường. Có như vậy mới có thể làm giảm rủi ro đạo đức trong sản xuất kinh doanh (cứ mỗi lúc gặp khó khăn- do chính mình tạo ra- lại kêu cứu nhà nước). Qua đó, các chủ đầu tư, chủ doanh nghiệp sẽ phải rút ra được những bài học đau đớn nhưng cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh sau này, cũng là cách thức góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và tái cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững.

Cuối cùng, năng lực sản xuất có bị thu hẹp do cầu giảm cũng không nhất thiết dẫn đến thiếu hàng hóa nên phải tăng nhập khẩu (và nhập lậu), từ đó dẫn đến những hậu quả khác mà một số người kể ra như tăng thâm hụt thương mại gây áp lực lên lạm phát cũng như nhập khẩu lạm phát.

Nhập khẩu có tăng hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có nhu cầu nội địa tăng hay không mà đến lượt nó lại phụ thuộc vào cung tiền (cung tiền tăng sẽ làm tăng tổng cầu, trong đó có nhập khẩu), cũng như xuất khẩu (nhập khẩu đầu vào cho xuất khẩu), bên cạnh một số yếu tố khác. Như vậy, với chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất cao thì đương nhiên tổng cầu và, do đó, nhu cầu nhập khẩu sẽ phải giảm đi, chứ khó có thể tăng lên như người ta e sợ. Chính sách tiền tệ thắt chặt cũng có khả năng làm giảm xuất khẩu (vì giảm tín dụng cấp cho khu vực xuất khẩu) nhưng do đó cũng làm giảm nhập khẩu tương ứng, và vì thế thâm hụt thương mại không nhất thiết tăng lên. Chính sách tiền tệ thắt chặt với lãi suất ở mức cao còn có tác dụng nâng đỡ tỷ giá VND so với USD, do đó làm giảm áp lực lạm phát từ cái gọi là nhập khẩu lạm phát.

Tóm lại, không thể kết luận rằng có mối quan hệ nhân quả từ việc thắt chặt chính sách tiền tệ -> lãi suất cao -> nhu cầu giảm -> hàng tồn kho tăng -> năng lực sản xuất thu hẹp -> cung giảm -> nhập khẩu tăng, nhập lậu tăng, (và làm cho) lạm phát tăng. Hàm ý rõ ràng ở đây là Chính phủ cần phải bỏ qua những lời kêu gọi vô căn cứ, phải kiên định với chính sách tiền tệ thắt chặt để giảm áp lực lạm phát (và đến chừng nào áp lực lạm phát vẫn còn đó), và phải coi đây là cách thức nhanh nhất, an toàn nhất để phục hồi và tăng trưởng bền vững.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).