Friday, 17 February 2012

Gót chân Ashilles của các ngân hàng Việt trong mắt chuyên gia quốc tế (Bai dang tren Dai bieu Nhan dan)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=238231

08:11 | 18/02/2012

Mới đây, tác giả bài này đã có dịp gặp và thảo luận với các chuyên gia phân tích của một hãng xếp hạng tín dụng quốc tế hàng đầu về vấn đề căng thẳng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng như những đánh giá chung về hệ thống ngân hàng Việt Nam. Cuộc gặp đã đem lại một số thu hoạch đáng chú ý mà nếu biết dựa vào đó để có hướng khắc phục hiệu quả thì xếp hạng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam và của cả hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ được cải thiện đáng kể.

Hãng xếp hạng tín dụng này hiện nay đang xếp hạng triển vọng của hệ thống ngân hàng Việt Nam ở mức tiêu cực trong vòng ít nhất 12 tháng tới. Có 4 lý do chính các chuyên gia xếp hạng đưa ra làm cơ sở cho hành động của mình như sau:

Thứ nhất, tính không minh bạch. Đây được coi là một trong những điểm yếu lớn nhất trong hệ thống ngân hàng và cả nền kinh tế. Hãng xếp hạng bình luận rằng họ không thể lấy được mấy thông tin hữu ích từ trang web tiếng Anh của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Lẽ ra, với chức năng của một ngân hàng Trung ương và đội ngũ cán bộ đông đảo, NHNN hoàn toàn có thể và cần phải cập nhật nhiều thông tin bằng tiếng Anh, chứ không chỉ đa phần bằng tiếng Việt như hiện nay. Trang web của các ngân hàng thương mại cũng không khá hơn. Một số ngân hàng thương mại nếu có đưa các thông tin tài chính (bắt buộc với các ngân hàng niêm yết) thì các thông tin này đều lạc hậu, có từ cách đây cả năm.

Thứ hai, tính bất cập của các tiêu chuẩn kế toán Việt Nam. Mặc dù các tiêu chuẩn báo cáo tài chính quốc tế đã được khuyến khích áp dụng ở Việt Nam nhưng điều đáng nói là việc áp dụng này không phải là bắt buộc. Và do tính dễ dãi theo các tiêu chuẩn Việt Nam so với các tiêu chuẩn quốc tế nên các ngân hàng vẫn thích và thường áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam hơn. Ví dụ cho chuyện này là phân loại nợ xấu, nếu theo tiêu chuẩn Việt Nam thì thấp hơn hàng chục điểm phần trăm so với tiêu chuẩn quốc tế. Cũng chính vì việc thích áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam này nên các hãng xếp hạng quốc tế không thể so sánh các ngân hàng hoặc cả hệ thống các ngân hàng Việt Nam với các nước khác, dẫn đến cái nhìn bi quan, hồ nghi.

Thứ ba, tỷ lệ vốn an toàn thấp. Mặc dù nhiều ngân hàng báo cáo đạt mức tỷ lệ vốn an toàn đạt mức 9%- 10% nhưng đây lại là theo tiêu chuẩn Basel I, thấp hơn tiêu chuẩn Basel II, trong khi thế giới đang tiến tới tiêu chuẩn Basel III và còn cao hơn nữa. Điều này càng đáng lo ngại trong bối cảnh các ngân hàng thương mại đua nhau đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng trong suốt mấy năm qua, có lúc đạt đến 70%- 80%/năm, dẫn đến cạnh tranh thu hút tiền gửi khốc liệt như hiện nay. Hãng xếp hạng tín dụng đặt ra câu hỏi không dễ trả lời là các ngân hàng này sẽ làm cách nào để xử lý vấn đề vốn an toàn thấp này? Nói cách khác, công tác quản lý rủi ro là điều gì đó hầu như không tồn tại ở trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Thứ tư, cho vay khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) quá nhiều. Điều quan trọng hơn là nhiều khoản nợ xấu vẫn được phân loại ở nhóm 1 (nợ không có vấn đề) và nhóm 2 (nợ cần chú ý). Ngay cả với những khoản nợ của Vinashin vẫn không được phân loại thành nợ xấu, với quan niệm rằng Chính phủ đang tái cơ cấu Vinashin và đến một ngày nào đó, doanh nghiệp này sẽ hồi sinh, làm ra đủ để trả nợ vay, và tức là khoản nợ hiện nay không phải/không được coi là nợ xấu (không thu hồi được).

Như vậy, qua mấy nhận định trên của hãng xếp hạng tín dụng, có thể thấy rõ là việc không coi trọng tính minh bạch cũng như sự cần thiết trong việc cung cấp thông tin, áp dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, thiết lập và thực thi nghiêm túc công tác quản lý rủi ro một cách chuyên nghiệp, phân loại nghiêm túc nợ xấu theo tiêu chuẩn quốc tế… là những điểm yếu chính trong hệ thống ngân hàng và của từng ngân hàng ở Việt Nam trong con mắt quốc tế và là lý do để họ có cái nhìn về hệå thống ngân hàng Việt Nam đôi khi tiêu cực quá mức cần thiết, trong bối cảnh thông tin vừa thiếu vừa tù mù và các hoạt động thì chẳng theo một chuẩn mực đáng tin cậy nào.

Để cải thiện được hạng tín dụng của mình, các ngân hàng thương mại và NHNN - với vai trò là cơ quan thanh tra, giám sát hệ thống ngân hàng - một mặt phải tăng cường tính minh bạch hơn nữa trong việc cung cấp thông tin, nhanh chóng và triệt để áp dụng tối đa các tiêu chuẩn quốc tế trong hoạt động ngân hàng, và trung thực, nghiêm túc hơn trong việc phân loại nợ xấu (đi kèm với việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế trong phân loại nợ xấu). Trung thực và nghiêm túc có thể sẽ làm bộc lộ rõ hơn nhiều yếu kém, tồn tại cho người bên ngoài thấy, nhưng là điều cần thiết làm cơ sở khôi phục lòng tin của quốc tế và để được thăng hạng trong mắt họ khi có những biến chuyển tích cực từ phía Việt Nam.

Đây là một số công việc có thể làm ngay bên cạnh những việc đòi hỏi phải có những nỗ lực lớn, thay đổi mang tính tư duy chiến lược như chuyện áp dụng và bảo đảm tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu theo chuẩn mực quốc tế, đồng thời với việc đạt tốc độ tăng trưởng tín dụng lành mạnh và bền vững hơn cho cả hệ thống.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).