Friday, 2 March 2012

Phương án hạ lãi suất của VAFI không hợp lý (Bai dang tren Dai bieu Nhan dan; dong chi bien tap da rat xuat sac cat giam cua to hon 300 chu ma dai de la to van nhan ra duoc bai cua minh!)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=239547

07:27 | 03/03/2012

Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) vừa có văn bản gửi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đề xuất 3 phương án giảm lãi suất cho vay. Cả 3 phương án này đều chứa đựng nhiều mâu thuẫn và bất cập.

Lập luận cảm tính

Để dẫn giải đến 3 phương án này, VAFI đã đưa ra một số nhận định làm nền cho lập luận cần phải nhanh chóng hạ lãi suất cho vay.

Theo dự báo của VAFI, trong 7 năm tới sẽ diễn ra tiến trình thặng dư về cán cân thanh toán, nhập siêu sẽ giảm dần và tiến tới Việt Nam trở thành quốc gia xuất siêu. Lập luận này được đưa ra dựa trên cơ sở phân tích dòng vốn FDI và xu hướng đầu tư của các doanh nghiệp trong nước. Theo đó, dòng vốn FDI vẫn tiếp tục vào Việt Nam ở mức bình quân 12 tỷ USD/năm, con số này không đạt đỉnh cao như các năm trước, tuy nhiên sẽ là không nhỏ nếu so với nhiều nước trên thế giới. Dòng vốn FDI sẽ chảy nhiều vào các ngành có lợi thế xuất khẩu. Việt Nam tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ở mức 10%/năm. Nhiều dự án trong nước thay thế hàng nhập khẩu đã và sẽ tiếp tục ra đời như xi măng, sắt thép, phân bón, các sản phẩm hóa dầu, tiêu dùng... sẽ góp phần làm giảm nhập siêu.

Có thể đúng là FDI sẽ tiếp tục vào Việt Nam ở mức khả quan (so với thế giới) nhưng điều này không hề đồng nghĩa với FDI sẽ “chảy nhiều” vào các ngành có lợi thế xuất khẩu. Nếu VAFI tiến hành phân tích cơ cấu ngành mà FDI đổ vào Việt Nam trong hơn 2 thập kỷ qua thì sẽ thấy một bức tranh khác với nhận định này. Quan trọng hơn, FDI chỉ là một trong những nguồn vốn cho tăng trưởng của Việt Nam, bên cạnh vốn tư nhân trong nước, vốn của doanh nghiệp nhà nước, vốn của Chính phủ. Chính những nguồn vốn trong nước này mới là yếu tố quyết định nền kinh tế Việt Nam là nhập siêu hay xuất siêu, bên cạnh thực tế là bản thân khối doanh nghiệp FDI cũng đang ở mức ngấp nghé giữa nhập siêu hay xuất siêu. Vậy, có thể suy ra luôn rằng nhận định của VAFI rằng trong 7 năm nữa Việt Nam sẽ thành xuất siêu nhìn từ góc độ FDI là vô căn cứ.

Theo lập luận của VAFI, đầu tư tài sản cố định của doanh nghiệp đang ở giai đoạn cuối, theo đó, thời kỳ bùng nổ đầu tư bắt đầu từ năm 2006, 2007, 2009, giảm dần từ 2010, 2011. Đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp sẽ thấp đi do đã xuất hiện tình trạng dư thừa năng lực sản xuất tại nhiều ngành kinh tế. Trong giai đoạn tới, cộng đồng doanh nghiệp sẽ chuyển sang đầu tư cho chiều sâu là chủ yếu, và như vậy tỷ trọng nhập khẩu tài sản cố định sẽ giảm đi nhiều, góp phần đáng kể giảm nhập siêu.

Lập luận trên của VAFI là cảm tính và thiếu logic. Thứ nhất, VAFI phải chứng minh được rằng “xuất hiện tình trạng dư thừa năng lực sản xuất tại nhiều ngành kinh tế” là tình trạng có tính dài hạn chứ không phải nhất thời (trong thời điểm NHNN thắt chặt chính sách tiền tệ). Thứ hai, “đầu tư cho chiều sâu” vẫn hoàn toàn có thể làm tăng (mạnh) tài sản cố định của doanh nghiệp chứ không đơn giản như theo cách hiểu của VAFI. Doanh nghiệp sẽ làm gì với “đầu tư chiều sâu” nếu không đầu tư vào thiết bị, máy móc hiện đại hơn có năng suất cao hơn và/hoặc sản xuất ra những sản phẩm tốt hơn, có giá trị gia tăng cao hơn? Thứ ba, “đầu tư chiều sâu” không có nghĩa là dẫn đến giảm nhập khẩu. Cứ cho là nhập khẩu “tài sản cố định” sẽ giảm đi, nhưng nhập khẩu cho những thứ có liên quan như công nghệ mới, vật liệu mới... để chuyển sang phát triển “chiều sâu” sẽ tăng lên, chưa kể nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu cho những ngành sản xuất hiện tại không nhất thiết giảm đi khi cầu các sản phẩm của chúng vẫn tăng lên theo đà tăng trưởng của nền kinh tế. Nói cách khác, tình trạng dư thừa năng lực sản xuất nếu chỉ là nhất thời thì sẽ không nhất thiết dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư (sang “đầu tư chiều sâu”); và sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư này, nếu có, cũng không nhất thiết dẫn đến giảm nhập siêu. Như vậy, mệnh đề thứ hai của VAFI làm nền cho nhu cầu cấp bách hạ lãi suất cho vay (nói thêm dưới đây) cũng là vô căn cứ.

Đề xuất không khả thi

Tiếp theo, xin được bàn đến tính đúng đắn, khả thi của 3 phương án mà VAFI đưa ra.

Phương án thứ nhất, NHNN chỉ đạo các ngân hàng thương mại nhà nước hạ dần lãi suất cho vay, từ đó lan tỏa đến các ngân hàng thương mại cổ phần khác.

Có thể thấy ngay một bất cập trong phương án này là NHNN chỉ đạo các ngân hàng hạ lãi suất cho vay. Nếu lạm phát vẫn ở mức cao (16,5% tháng 2), trần lãi suất huy động vẫn còn đó, trong khi NHNN không muốn bơm tiền ra, làm cho thanh khoản hệ thống ngân hàng vẫn căng thẳng thì các ngân hàng thương mại lấy đâu ra vốn để cho vay với lãi suất thấp hơn?

VAFI “thòng” thêm một câu: “Đồng thời, theo tín hiệu của chỉ số giá tiêu dùng và thị trường liên ngân hàng, NHNN thực hiện bơm tiền ở liều lượng thích hợp và cuối cùng sẽ điều chỉnh trần lãi suất huy động”. Nếu NHNN bơm tiền “theo tín hiệu của chỉ số giá tiêu dùng”, vậy thì, theo logic, với mức CPI vẫn ở con số 16,5% như hiện nay, tại sao NHNN phải bơm tiền? Nếu nói rằng CPI đang có xu hướng tăng chậm lại, vậy thì hãy chờ nó xuống dưới một ngưỡng an toàn nào đó (chắc chắn không phải ở mức 2 con số) thì hãy nới cung tiền mới đúng chứ? Sao lại cứ đòi phải hạ ngay lãi suất tại thời điểm này?

Về phương án hai, NHNN nên giảm ngay lãi suất huy động đối với tổ chức xuống 11%/năm. Theo đó, việc giảm ngay lãi suất với đối tượng này sẽ không ảnh hưởng đến trật tự huy động vốn của hệ thống ngân hàng thương mại, cũng như không tác động tới thị trường ngoại tệ. Mặt khác, NHNN đặt ngay trần lãi suất cho vay không quá 18%/năm, sau đó, theo tín hiệu thị trường giảm dần lãi suất tiền gửi của dân cư, và hạ tiếp trần lãi suất cho vay.

Cần lưu ý rằng, việc đặt trần lãi suất huy động đối với tổ chức xuống 11% và việc huy động được từ các tổ chức này với lãi suất dưới 11% là 2 việc khác nhau, vì, cũng như với tiền gửi huy động từ cá nhân, các ngân hàng sẽ tìm cách “lách”, nâng lãi suất huy động thực tế để huy động từ các tổ chức khi mà cơn khát vốn đòi hỏi phải làm vậy. Còn các tổ chức cũng có xu hướng tìm những ngân hàng chào lãi suất cao hơn để gửi.

Điều tương tự cũng sẽ đúng với trần lãi suất cho vay, khi mà các ngân hàng sẽ có cách để buộc doanh nghiệp phải trả thêm mới được vay khi mà chi phí vốn đầu vào vẫn cao, còn doanh nghiệp buộc phải chấp nhận vay với lãi suất cao hơn vì không còn lựa chọn nào khác. Ngoài ra, trần lãi suất cho vay còn có một khiếm khuyết lớn là nó phá vỡ nguyên tắc tín dụng là lãi suất được tính theo mức độ rủi ro của doanh nghiệp. Với những doanh nghiệp rủi ro lớn hơn mà vẫn được vay với mức lãi suất tối đa cũng chỉ bằng những doanh nghiệp khác có rủi ro nhỏ hơn, chắc không mấy ngân hàng dám cho vay. Kết cục là tuy lãi suất cho vay trên danh nghĩa có giảm đi nhưng sẽ có nhiều doanh nghiệp vẫn không tiếp cận được với vốn vay.

Phương án ba, nghị định về quản lý kinh doanh vàng cần sớm được ban hành vì nó có tác động tích cực đến bình ổn thị trường ngoại hối. Điểm mấu chốt của Nghị định là sẽ ban hành chính sách thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hoạt động kinh doanh vàng. Theo phân tích của VAFI, nếu Nhà nước sớm công bố chủ trương thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt với hoạt động kinh doanh vàng ở mức 20% trên giá bán thì đây sẽ là giải pháp đột phá để hạ lãi suất cho vay về dưới 10%/năm. Hiệu quả của giải pháp này là nhanh chóng kích thích thị trường chứng khoán cũng như thị trường trái phiếu phục hồi và phát triển. Cùng với đó hệ thống ngân hàng sẽ có cơ hội huy động nguồn vốn dài hạn. Mặt khác, giải pháp này không những ngăn chặn tình trạng chảy máu ngoại tệ mà nguồn ngoại tệ, nguồn vàng trong dân sẽ chảy vào hệ thống ngân hàng thương mại một cách dễ dàng.

Không hiểu VAFI nhìn nhận mối quan hệ giữa việc áp dụng những loại thuế này (với ngụ ý sẽ buộc nhà đầu tư chuyển hướng đầu tư từ vàng sang trái phiếu và chứng khoán), với việc giảm lãi suất cho vay. Mối quan hệ này thậm chí còn diễn ra trái với mong muốn của VAFI. Ví dụ, chứng khoán (và kể cả trái phiếu) tăng trưởng quá nóng sẽ kích thích đi vay ngân hàng để đầu tư vào chứng khoán, hoặc thu hút hết nguồn vốn lẽ ra đem gửi vào ngân hàng. Cả 2 khả năng này đều làm tăng lãi suất huy động và cho vay. Ngoài ra, nếu xiết được việc đầu cơ kinh doanh vàng thì rất có thể bất động sản lại nóng lên, lại thu hút các nguồn vốn vào đó với hậu quả tương tự như khi chứng khoán nóng lên.

Thêm nữa, vàng và ngoại tệ chảy vào hệ thống ngân hàng cũng không đồng nghĩa với lãi suất cho vay VND hạ đi, vì lãi suất cho vay VND phụ thuộc vào cung VND chứ không phải cung ngoại tệ hay vàng (kể cả từ hệ thống ngân hàng). Kể cả nếu VAFI nói đến lãi suất cho vay bằng vàng hoặc ngoại tệ, chuyện huy động được vàng hoặc ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng cũng không đồng nghĩa với việc giảm lãi suất cho vay bằng vàng hoặc ngoại tệ vì lãi suất này phụ thuộc vào nguồn cung vàng và ngoại tệ trong cả nền kinh tế (là cái sẽ khó thay đổi chỉ với giải pháp áp thuế kinh doanh như trên), chứ không phải chỉ từ hệ thống ngân hàng, vì hệ thống ngân hàng chỉ là kênh trung chuyển từ nơi cung đến nơi cầu.

Tóm lại, cả 3 phương án hạ lãi suất cho vay của VAFI đều chứa đựng nhiều mâu thuẫn và bất cập. Trên hết, VAFI dường như vẫn chưa nhận thức được đầy đủ những trở ngại xung quanh việc hạ lãi suất tại thời điểm này (lạm phát vẫn cao, áp lực gia tăng trở lại lạm phát khi NHNN bơm tiền, tình trạng thanh khoản ngân hàng vẫn căng thẳng, tính phi hiệu quả của các giải pháp hành chính như trần lãi suất cho vay hoặc huy động v.v...).

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).