Monday, 2 April 2012

Quay trở lại với bài trả lời của đồng chí TS Phạm Đỗ Chí

Tớ cứ dùng dằng mãi trong chuyện không biết có nên “phang” lại đồng chí Chí thêm một nhát nữa không, phần vì nghĩ phí thời gian cho cái việc này, phần vì phải gõ lại bài viết của đồng chí Chí do không download được trên TBKTSG. Nhưng đã hứa là sẽ comment trên blog này khi TBKTSG trả lời không đồng ý cho tớ phản biện thêm một lần nữa (họ đã trả lời vậy) nên tớ đành bỏ ra buổi tối này ngồi gõ và trả lời cố gắng thấu đáo nhất có thể để hy vọng một ngày đẹp trời nào đó đồng chí Chí hoặc đồng chí Ngoạn có vô tình đọc được bài này thì cũng nên “rút kinh nghiệm” khi nói và viết cho “phù hợp” hơn. Tớ phải nói rất “mập mờ” thế này để người đọc không phê phán tớ là “hằn học” như có đồng chí đã comment mới đây.
Bài trả lời của đồng chí Chí có tiêu đề: “Trả lời bài “Nhiều mâu thuẫn” – Bớt đi các can thiệp vào thị trường”; TBKTSG số 15 (29/3/2012). Một số trích dẫn tớ không đưa đầy đủ (trừ điểm chính, liên quan) để đỡ phải gõ lại nhiều.
------------------------------------------------------------------------------------- 

1.                  Đồng chí Chí viết: “Trong TBKTSG số 13 (22/3), tôi và … đã dẫn chứng thêm các dấu hiệu về tình trạng đình đốn đã nêu trong bài trên với Ts Ngoạn. Như vậy rõ ràng rằng chúng tôi cố gắng “xác nhận” kinh tế đất nước thời điểm này không phải là ở (hay tiệm cận) “mức toàn dụng”  trong dài hạn, xin nói rõ là không phải là nói “trực tiếp” hay ngay cả “thừa nhận gián tiếp”.
Tớ trả lời: Như vậy, có thể chỉ ngay ra rằng kết luận trên của tác giả Chí mâu thuẫn hoàn toàn với phần dẫn nhập trong bài của tác giả Chí và Ngoạn: “Trong trường hợp của Việt Nam, có vẻ như khả năng sản xuất và hiệu quả nền kinh tế đang đến các giới hạn đặt ra bởi sự thiếu nhân công có tay nghề cao, đất đai có năng suất cao và công nghệ bị giới hạn... đã đặt ra những trở ngại đáng kể cho chu trình sản xuất”.

Xin nói cho rõ hơn rằng “đang đến giới hạn…” thì không thể nào đúng như tác giả Chí khẳng định rằng nền kinh tế Việt Nam đang (có dấu hiệu về) tình trạng đình đốn, là cái mà tớ đã viết trong bài phản biện đầu tiên, và là cái mà tác giả Chí không trả lời trực tiếp vào đó mà lại đi khẳng định rằng nền kinh tế Việt Nam đang đình đốn.

2.                  Đồng chí Chí viết: “Chúng tôi có thiếu vài dòng để giải thích thêm là trong “đoạn đường hiện nay của một chu kỳ tăng trưởng dài hạn đều đặn mong muốn” (…), kinh tế Việt Nam dường như đã đến giới hạn của mức tăng trưởng cao (7-8%)  như trong thập kỷ 1995-2005, vài năm rồi chỉ còn lẹt đẹt 5-6% và quý 1 năm nay sợ còn dưới 4%.... dù vẫn áp dụng mức đầu tư công rất cao so với khu vực và thế giới. Nguyên do là …”

Tớ trả lời: Đọc cả cái đoạn này mà tớ chịu chẳng hiểu đồng chí Chí muốn nói gì, thanh minh gì. Hình như đồng chí vẫn có ý muốn nói rằng là nền kinh tế Việt Nam đang đến các giới hạn. Mà nếu như vậy thì càng khẳng định rằng tình trạng đạt đến giới hạn này chẳng liên quan gì đến chuyện nền kinh tế Việt Nam đang bị đình đốn cả, vì “đình đốn” với “đạt đến giới hạn” là 2 trạng thái hoàn toan khác nhau, chứ không thể nhập nhèm làm một được.

3.                  Đồng chí Chí viết: “Vì những điều chúng tôi xác nhận ở trên (nhưng chưa rõ trong bài viết trước) là chúng tôi bàn đến các chính sách tài khóa và tiền tệ trong một mô hình IS-LM cho ngắn hạn, tức là cả tài khóa và tiền tệ đều có thể có tác dụng lên Y trong ngắn hạn, may thay là có lẽ cho cả từ 6 tháng đến 1-2 năm tới”.

Tớ trả lời: Các đồng chí “chưa rõ” với lại “có thiếu vài dòng” hơi bị nhiều đấy! Mà toàn những chi tiết cực kỳ quan trọng cả, thiếu hoặc khác đi thì sự việc hoàn toàn trở nên khác. Trong một bài viết khá nghiêm túc, động chạm đến những vấn đề mà có bạn đọc đã gọi là “cao siêu” thế này mà các tác giả lại phạm những lỗi nghiêm trọng thế này đáng ra là điều không thể bao biện. Chưa kể, phải nói thẳng thắn ra, là cách hành văn của các đồng chí chẳng tỏ ra là pờ rô gì cả đâu.

Tớ rất nghi ngờ ý định ban đầu của các đồng chí là chỉ bàn đến mô hình IS-LM trong ngắn hạn. Tớ thì nghĩ rằng các đồng chí ban đầu “cứ tưởng” rằng mô hình này là cho dài hạn, nên cứ thoải mái mà triển khai, đến khi tớ phản biện lại thì mới phát hiện ra mình nhầm nên quay sang biện hộ rằng các đồng chí chỉ có ý nói/bàn đến nó trong ngắn hạn.

Trong bài phản biện trước của tớ, nguyên bản có một đoạn thế này: “Chắc các tác giả không định chủ trương kêu gọi dùng chính sách tiền tệ nới lỏng là công cụ để đạt được cái gọi là “đối phó với lạm phát và giúp giảm lãi suất” mà vẫn thúc đẩy tăng trưởng Y trong dài hạn?  Mà nếu như vậy thì giải pháp ngắn hạn này chẳng còn mấy ý nghĩa….” Rất tiếc, cái đoạn này chẳng hiểu vì lý do gì mà TBKTSG nhất quyết cắt béng đi của tớ khi biên tập. Nói thế, đủ để thấy rằng cái “chưa rõ” với “có thiếu vài dòng” của các đồng chí đã gây ra sự hiểu nhầm/nhầm lẫn tai hại thế nào.

Nhưng thôi, để công bằng, tớ không hồ đồ quy kết các đồng chí là đã sai lầm như trên nữa, mà “xoay” các đồng chí ở khía cạnh khác. Nếu các đồng chí muốn bàn đến mô hình trên trong ngắn hạn thì chẳng cần phải đến mô hình này kia cho lằng nhằng, đánh đố người đọc ra, để người ta buột miệng cho rằng là khoe chữ. Như tớ đã chỉ ra, chẳng qua “kế sách” của các đồng chí cũng chỉ là nới lỏng chính sách tiền tệ (kèm theo “chặt chẽ” chính sách tài khóa). Mà như vậy thì chẳng khác gì, cao siêu gì hơn cái mà thiên hạ hiện nay đang bàn đến ầm ầm. Cụ thể hơn, đến người bình thường còn biết/nghĩ rằng lãi suất tăng cao quá làm hại đến doanh nghiệp nên việc cần làm là phải chữa trị cái nguồn cơn gây khó khăn này bằng cách NHNN hạ lãi suất (tất nhiên hậu quả của việc này là chuyện khác, mà tớ đã nói nhiều đến trong bài trước và bài này). Và hỏi đến 10 người bây giờ thì chắc phải có đến cả 9,5 người phản đối chuyện tăng đầu tư công.

Ngoài ra, đã là “ngắn hạn” thì khó mà nghĩ “kế sách” của các đồng chí lại có tác dụng lâu hơn 6 tháng. Các đồng chí có thể vặn lại rằng cơ sở nào lại nghĩ vậy, thì tớ cũng có thể nói lại rằng vậy một khi đã không biết rõ thì không nên biến cả nền kinh tế này thành vật thí nghiệm với cái kiểu tư duy chính sách “may thay là có lẽ cho cả…”

Thêm nữa, đã thừa nhận là chỉ có tác dụng ngắn hạn, vậy các đồng chí không nghĩ gì đến hậu quả cho nền kinh tế, mà cụ thể là lạm phát và phá giá VND, sau cái “ngắn hạn” của các đồng chí à? Các đồng chí lại định lặp lại vết xe đổ của các đời Thống đốc với gì gì đó nữa ở “trển” khi sẵn sàng đánh đổi một chút tăng trưởng trong ngắn hạn bằng những bĩ cực của bất ổn vĩ mô sao? Liệu có đáng để “giải cứu” nền kinh tế (cứ cho là) đã lâm vào tình trạng “đình đốn” bằng cái giá phải trả đắt đến thế không? Giá mà “kế sách” của các đồng chí có tác dụng trong dài hạn, tức là 5 năm, 10 năm hoặc hơn nữa thì cái giá trên may ra còn chấp nhận được sau 5 năm, 10 năm vàng son thịnh vượng.

4.                  Đồng chí Chí viết: “Tinh thần của Nghị quyết 11 mà Chính phủ áp dụng từ tháng 3/2011 và kéo dài đến bây giờ có lẽ là dựa trên căn bản lý thuyết đó (Ngọc: Lý thuyết nào vậy?). Chính sách thắt chặt tiền tệ suốt từ 3 quý chót của năm ngoái đã có tác dụng nhưng với độ trễ 6-7 tháng lên mức lạm phát đi xuống từ tháng 8 năm ngoái đến nay (3/2012). Tiếc thay, cái giá phải trả bắt buộc là đẩy lãi suất lên cao quá mức chịu đựng của nhiều doanh nghiệp và quá lâu khiến xảy ra đình trệ sản xuất như đã bàn. Trong 2 bài qua, chúng tôi kêu gọi sự áp dụng linh hoạt hơn của 2 chính sách, nới lỏng chính sách tiền tệ để hạ lãi suất xuống và thắt chặt (không phải chỉ “chặt chẽ”) tài khóa để vẫn ngăn chặn lạm phát. Theo chung tôi, Ts Ngọc không phải quá lo khi liều lượng tiền tệ còn phải nặng thêm khi cắt giảm tài khóa lúc ban đầu trong sự hoán chuyển chính sách mà chúng tôi đề nghị. Vì trong nhiều dự án đầu tư công, độ thất thoát lãng phí có thể lên tới 30-40%”.

Tớ trả lời: Đồng chí nói cứ như thể việc thắt chặt chính sách tiền tệ đem lại hậu quả không lường trước được ấy. Đồng chí phải lấy làm “tiếc thay” nếu khi mà lạm phát không đi xuống, khi mà doanh nghiệp vẫn còn đầu tư tràn lan vì vốn rẻ. Cũng phải nên “tiếc thay” khi mà đã thắt chặt chính sách tiền tệ lâu thế rồi, “ghê” thế rồi mà lạm phát mới chỉ hạ được có chừng đó, chứ không phải là tiếc thay cho những cái khác. Thế nào là “đẩy lãi suất lên cao quá mứ chịu đựng của nhiều doanh nghiệp”? Tại sao các đồng chí không đặt câu hỏi là chỉ có từng đó doanh nghiệp bị ngừng hoạt động mà không phải là hơn? Tại sao chỉ là những doanh nghiệp đó mà không phải là phần còn lại của các doanh nghiệp bị ngừng hoạt động? Nói ngược lại, nếu đã biết được rằng hậu quả của chính sách tiền tệ là “ghê” như vậy rồi thì tốt nhất ngay từ đầu đừng thắt chặt nữa có phải hơn không? Và xa hơn nữa là đừng để xảy ra lạm phát (bằng chính sách tiền tệ mở rộng quá cỡ) rồi lại phải thắt chặt lại có phải là hơn không? Và “kế sách” của các đồng chí cũng chính là khởi đầu của cái vòng luẩn quẩn này đấy!

Lời kêu gọi sử dụng 2 chính sách linh hoạt hơn của các đồng chí chẳng có gì là mới mẻ, có giá trị gia tăng gì cả. Như đã nói, logic thông thường trong đầu những người bình thường là cắt giảm đầu tư công và “linh hoạt, chặt chẽ” trong chính sách tiền tệ, và, thực tế, khi mà mục tiêu tăng trưởng cung tiền, tín dụng cho năm nay vẫn là 15-17%, quá đủ cho sự “linh hoạt”, “nới lỏng” của chính sách tiền tệ. Còn cái cụm từ “không phải chỉ “chặt chẽ””, nguyên văn là của các đồng chí đấy! Tớ đã phải sửa lại trong bài cho các đồng chí bằng từ “thắt chặt”, “thắt lại”, nay đồng chí lại lấy luôn làm của mình!

Việc đồng chí cho rằng thất thoát, lãng phí trong đầu tư công lên tới 30-40% là lạc đề ở đây, khi chúng ta đang bàn đến lý thuyết, vì chính các đồng chí đề xuất ra như vậy. Tất nhiên, đồng chí có thể nói rằng đây là điều kiện đặc thù của Việt Nam. Nếu vậy thì tốt nhất đừng nói đến áp dụng bất cứ một mô hình nào nữa. Hơn nữa, cứ cho là có thất thoát như vậy, vậy thì cái phần còn lại 60-70% cắt giảm thực sự đầu tư công phải được bù lại bằng tăng cung tiền chứ sao?

5.                  Đồng chí Chí viết: “Câu chuyện lý thuyết kinh tế vĩ mô mà Ts Ngọc đặt ra ở gần phần cuối là trong mô hình dài hạn toàn dụng, tiền tệ không có ảnh hưởng đến Y mà chỉ tác động lên lạm phát, còn là phải vận dụng chính sách tài khóa theo lý thuyết của Keynes thì chúng tôi không muốn bàn thêm ở đây vì sợ tốn thêm giấy mực của một đề tài tranh luận quá nhiều và từ quá lâu, và vẫn “mỗi người một ý”.”

Tớ trả lời: Chính vì cái “chưa rõ” với cái “thiếu vài dòng” của các đồng chí như nói ở trên mà làm tớ phải mất công lý luận với các đồng chí đấy! Trên hết, cũng như nói ở trên, nếu các đồng chí thực sự chỉ định bàn đến những “kế sách” ngắn hạn, ăn sổi thì tốt nhất là ngừng ngay ý định này từ đầu vì, cũng như tớ đã nói, nó chẳng có tí giá trị thặng dư nào cả, ngoài cái cảm giác xấu gây ra cho người đọc.

6.                  Đồng chí Chí viết: “Thêm nữa, theo ý cá nhân tôi, không thể so sánh tình trạng Việt Nam bây giờ đang vướng “bẫy thanh khoản” như Nhật hồi những năm 90 khi chính sách tiền tệ không còn ảnh hưởng đến lãi suất, và lãi suất lại có rất ít ảnh hưởng đến tăng trưởng. Nguyên do rất đơn giản là bẫy lãi suất chỉ xảy ra ở mức cực thấp, còn ở Việt Nam lãi suất bây giờ là 12-20%, làm sao có bẫy này?”

Tớ trả lời: Nguyên văn tớ trích dẫn 2 trường hợp bẫy thanh khoản, Nhật những năm 90 và Mexico sau năm 1994, đồng chí lại “lờ” đi trường hợp Mexico. Không phải ngẫu nhiên tớ đưa ra 2 trường hợp này, vì chúng là minh họa cho 2 loại bẫy thanh khoản: bẫy thanh khoản cầu (demand liquidity trap, Nhật) và bẫy thanh khoản cung (supply liquidity trap, Mexico); xem cụ thể thêm ở đây). Hình như đồng chí chỉ hiểu rằng bẫy thanh khoản chỉ xảy ra trong trường hợp lãi suất cực thấp, mà không biết rằng bẫy thanh khoản còn xảy ra khi NHTƯ cung cấp thanh khoản dồi dào cho hệ thống ngân hàng nhưng cuối cùng lượng thanh khoản này lại quay trở lại nằm trong bảng cân đối tài sản của NHTƯ (khi các ngân hàng lại gửi tiền vào NHTƯ). Trong cả 2 trường hợp, tiền không chảy vào nền kinh tế thực; thanh khoản dồi dào nhưng chẳng ai vay để đầu tư, tiêu dùng.
Nói thêm cho trường hợp Mexico, trong bài viết The Role of Bank Restructuring in Recovering fromCrises: Mexico 1995-1998 của GS Anne Krueger, DH Stanford và Aaron Tornell, DH Harvard năm 1999 (các trang 24 và 33), 2 tác giả này đã kết luận rằng cung tiền từ NHTƯ Mexico đã tăng mạnh nhưng kết cục lãi suất thực cho vay các doanh nghiệp trong nước cao hơn nhiều so với lãi suất mà các doanh nghiệp lớn có thể tiếp cận được trên thị trường tiền tệ quốc tế, và quan trọng hơn, khối lượng vốn cho vay lại giảm đi (đặc biệt với các doanh nghiệp nhỏ và không có khả năng trao đổi thương mại). Nên biết thêm rằng lạm phát và lãi suất của Mexico trong giai đoạn này cao hơn 0 rất nhiều!

7.                  Đồng chí Chí viết: “Sau hết, về giải pháp. Lãi suất vẫn chưa thể xuống nhanh dù NHNN đã hết thuốc, vì các vấn đề thanh khoản khó khăn vẫn tiếp tục và nợ xấu của các ngân hàng trong lĩnh vực bất động sản. Biện pháp duy nhất, theo ý tôi, là NHNN cần ngưng ngay các biện pháp hành chính chữa cháy, thay bằng các biện pháp thị trường. Đó là bỏ ngay lãi suất trần huy động, hệ thống có thể chao đảo vài tháng với lãi suất tăng vọt ở các ngân hàng nhỏ... Giải pháp tối hậu có vẻ là: cần nhanh chóng bỏ các biện pháp hành chính hiện nay và trở về với cơ chế thị trường”.

Tớ trả lời: Với cái cụm từ “Biện pháp duy nhất” của đồng chí thì hóa ra là cái phần “kế sách” trên của đồng chí Chí với đồng chí Ngoạn là thừa à? Các đồng chí đã thừa nhận rằng nới lỏng chính sách tiền tệ không giải quyết được vấn đề thanh khoản và nợ xấu đúng không? Nếu đúng thì ... done! (xin lỗi, tớ phải dùng từ này ở đây cho ngắn, dễ hiểu, mặc dù tớ không sính dùng chữ tây trong các bài viết tiếng Việt cho lắm).

Rồi nữa, giải pháp “duy nhất” của đồng chí Chí (“cần ngưng ngay các biện pháp hành chính”) lại “đập” chan chát với giải pháp của đồng chí Ngoạn. Mới tuần trước, tớ trích dẫn trên blog này phát biểu của đồng chí Ngoạn rất đanh thép rằng: “Mọi biện pháp hành chính đều là phi thị trường và ắt để lại hậu quả không mong muốn nếu không được thực thi một cách nghiêm túc. Hiện nay, Ủy ban GSTC mong muốn xóa trần, tuy nhiên do thị trường tiền tệ còn nhiều bất ổn, thanh khoản hệ thống chưa ổn định nên cần tiếp tục duy trì thêm một thời gian”, khi đồng chí Ngoạn nói về tại sao không nên xóa bỏ ngay trần lãi suất huy động. Hay đồng chí Ngoạn cãi rằng đấy là ý kiến riêng của đồng chí Chí thôi chứ không phải của tớ (tức đồng chí Ngoạn) đâu! Ôi tớ đến bó tay với các đồng chí thôi!

Thêm cái rồi nữa, rằng cái “giải pháp duy nhất” của đồng chí Chí (cứ cho là không phải của đồng chí Ngoạn) cũng cần phải nói thẳng thắn là chẳng có tí giá trị thặng dư nào cả vì đã có những người, ví dụ như tớ chẳng hạn, nói cả vài tháng trước đây rằng cần phải bỏ ngay trần lãi suất huy động (và không được áp trần lãi suất cho vay) đi để giải quyết vấn đề thanh khoản và hạ lãi suất ở Việt Nam.
Tóm lại, tớ phí cả một buổi tối chơi với vợ con để làm một cái công việc vô bổ thế này, cũng chỉ mong (nói rất khiêm tốn, lễ phép) rằng các đồng chí Ts ơi, làm ơn ... cho thiên hạ nhờ. Để lửng thế này cũng là để bạn đọc tự phán xét thêm cho khách quan.


Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).