Sunday, 15 April 2012

Tớ thấy khả năng xảy ra cho một sự trùng hợp xấu!

Bài dưới đây tớ viết tháng 12/2008, tức là hình như chỉ sau khi có tin về gói kích cầu bằng hỗ trợ lãi suất đầu tiên là 1 tỷ đôla. Nay đọc lại, tớ mới thấy rùng mình cho những tiên đoán của mình. Ngoài bài này, tớ còn viết thêm mấy bài khác về cùng chủ đề, đặc biệt khi chính phủ tuyên bố gói kích cầu lên tới 8 tỷ đôla năm 2009. Tớ sẽ lần lượt post lên đây. Các bài này đều đã đăng trên Tạp chí Ngân hàng, báo Đại biểu Nhân dân, hoặc Tạp chí Đầu tư Nước ngoài. Tớ chưa tìm lại các link để các đồng chí tiện tham khảo. Post lại những bài này để hy vọng nó có ích cho ai đó có cái đầu nóng sẽ trở nên mát một chút.

Nhân chuyện này, xin nhắc lại một số ví dụ người thật việc thật để thấy người ta dễ dàng chóng quên, dễ dàng xem nhẹ sự việc, thiển cận thế nào. Ví dụ thứ nhất là một cán bộ quản lý rủi ro tín dụng thuộc dạng cao cấp trong Techcombank mà tớ có tiếp xúc vào khoảng tháng 3 hay tháng 4 năm 2010. Chị này hỏi tớ (theo kiểu hỏi phỏng vấn tuyển việc) rằng tớ thấy rủi ro lớn gì cho năm 2010 và 2011. Tớ nói luôn rằng đó là lạm phát. Chị ta cười nhếch mép (tớ tưởng tượng thế, vì là hỏi qua điện thoại), và nói rằng đại loại đó là chuyện viễn tưởng. Sau khi nghe nói thế, tớ chán hẳn, vì phép lịch sự mà vẫn phải tiếp tục nói mặc dù chỉ muốn đập cái điện thoại xuống.

Một ví dụ khác, cách đây cả chục năm. Đồng chí em tớ làm luận văn Master ở trường DH KTQD về đề tài lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam trong những năm trước đó. Thầy giáo hướng dẫn cười rất chán, bảo bây giờ Việt Nam đang bận lo chống thiểu phát, sao lại làm về lạm phát làm gì, ai quan tâm, đại loại thế. Chán hẳn với mấy cái loại thầy giáo này.

Sau nới lỏng chính sách tiền tệ là…
TS Phan Minh Ngọc
ThS Phan Thúy Nga

            Với chủ trương kích cầu để khắc phục suy giảm tăng trưởng và nạn thất nghiệp gia tăng, Chính phủ đã đột ngột thay đổi lập trường chính sách, chuyển từ ưu tiên kiềm chế lạm phát sang kích cầu để chống suy giảm kinh tế, được hậu thuẫn bằng chính sách tiền tệ nới lỏng liên tục và mạnh, và khoảng ngân quỹ 1 tỷ đôla để trực tiếp kích cầu.

            Với sự thay đổi lập trường chính sách này, dường như nỗi lo về lạm phát đã lùi vào dĩ vãng, và người ta dễ dàng cho rằng lạm phát cao khó có thể quay trở lại được khi mà chỉ số giá cả tiêu dùng trong hai tháng gần đây đã tăng trưởng ở mức âm, và xu hướng giá cả thế giới tiếp tục suy giảm do nhu cầu tiêu dùng toàn cầu sụt giảm.

            Tuy nhiên, sự thực rất có thể không phải như vậy. Như đã lập luận ở một bài viết trước đây, tác giả cho rằng chỉ khi nào lãi suất cho vay thực sự thấp, đến mức độ “không vay thì áy náy” thì chính sách tiền tệ nới lỏng mới phát huy tác dụng trong việc kích cầu tiêu dùng và đầu tư. Còn nếu lãi suất chỉ hạ ở mức chừng mực nào đó thì cầu khó có thể tăng mạnh, mà hậu quả lại là lạm phát bùng nổ trở lại, chưa kể đến một loạt hậu quả xấu khác.

Quả thật, cho đến nay, các tin tức đăng tải đều cho thấy ngân hàng thì đang ứ đọng tiền, tích cực mời chào cho vay mà doanh nghiệp và cả người tiêu dùng thì vẫn dửng dưng. Một số thì cho rằng lãi suất vẫn còn quá cao (mặc dù đã hạ về mức đầu năm 2007!). Nhưng nhìn chung, đa số lý do được đưa ra là các doanh nghiệp đều không dám vay vốn nữa vì tiêu thụ sản phẩm đang rất khó khăn, do nhu cầu tiêu thụ của xã hội đã bị hạn chế đáng kể, do đối tác gặp khó khăn trong thanh toán v.v...

Trong bối cảnh như vậy, việc hạ lãi suất cơ bản từ 14% xuống còn 10% như hiện nay, kèm theo đó là việc hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc và các biện pháp nới lỏng chính sách tiền tệ khác, tuy đã là một bước nới lỏng tương đối nhanh và mạnh nhưng có thể vẫn chưa đủ vì quả thật nếu so với thế giới và khu vực thì mức này vẫn còn tương đối cao.

Vậy xu hướng sắp tới là gì? Chúng ta có thể dự đoán rằng Chính phủ nhận thấy chính sách tiền tệ như hiện tại vẫn chưa thực sự kích thích tiêu dùng và đầu tư. Do đó, khả năng sắp tới là chính sách tiền tệ lại được tiếp tục nới lỏng một cách mạnh dạn hơn nữa, và lãi suất cơ bản có khả năng được điều chỉnh giảm thêm một vài phần trăm, cho đến khi chi phí vốn thực sự trở nên rẻ mạt so với mức lạm phát tiềm năng và/hoặc lạm phát kỳ vọng (giá cả thế giới sẽ rơi xuống một điểm đáy nào đó rồi sẽ bật trở lại, cũng như giá cả trong nước, kéo theo lạm phát tăng lên). Song song với điều này là gói kích thích tiêu dùng 1 tỷ đôla nói trên hoặc hơn nữa được tung vào lưu thông. Kết cục sẽ có thể là tiêu dùng phục hồi ở một mức độ nào đó, kéo theo đầu tư và tăng trưởng.

Nhưng những kết cục lớn hơn và đáng nói hơn là lạm phát cao sẽ quay trở lại, thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ tăng lên ở mức báo động, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tăng vọt lên, và đồng Việt Nam bị mất giá mạnh, kéo theo nạn đôla hóa thêm trầm trọng v.v...

Lạm phát cao sẽ quay trở lại vì giá cả thế giới sẽ khó có khả năng giảm mạnh hơn nữa vì mức giá cả hiện nay đang ở ngưỡng hoặc thấp hơn chi phí sản xuất đối với rất nhiều ngành, nhiều doanh nghiệp. Nếu giá cả tiếp tục sút giảm thì rất nhiều doanh nghiệp buộc phải lựa chọn con đường cắt giảm sản xuất, là cái rốt cuộc ngăn chặn đà rơi của giá cả thế giới. Như vậy, giá cả trong nước sẽ mất đi một đà hỗ trợ trung hòa áp lực tăng giá. Và như vậy, chính sách tiền tệ nới lỏng mạnh ở trong nước sẽ chỉ dẫn đến một hậu quả không gì khác ngoài lạm phát.

Thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ tăng lên (nói cách khác là chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu sẽ ngày càng âm) vì bình thường vốn dĩ tỷ trọng nhập khẩu so với GDP đã lớn hơn xuất khẩu, nay với các biện pháp kích cầu, tiêu dùng trong nước sẽ tăng lên, và tức là nhập khẩu sẽ tăng lên ở một mức tương ứng. Sẽ có người bắt bẻ rằng trong gói biện pháp kích cầu của ta có cả kích cầu cho xuất khẩu (tức là tìm cách thúc đẩy xuất khẩu). Nhưng điều này xem ra khó có khả năng thành hiện thực, trừ khi ta hạ giá hàng xuất khẩu để nâng cao tính cạnh tranh trong hoàn cảnh các nước đều cố gắng thúc đẩy xuất khẩu và nhu cầu tiêu thụ của thế giới thì lại giảm sút mạnh. Mà nếu đã hạ giá xuất khẩu để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu thì kim ngạch xuất khẩu có thể sẽ không tăng tương ứng, hoặc không đủ bù đắp phần ngoại tệ phải bỏ ra để kích cầu xuất khẩu (trợ giá, miễn thuế, hạ lãi suất vay vốn ngoại tệ để nhập nguyên liệu, máy móc v.v...). Hơn nữa, cần lưu ý rằng xu hướng bảo hộ mậu dịch đang quay lại ở nhiều nước trên thế giới trong hoàn cảnh hiện nay nên việc tăng cường xuất khẩu vào một thị trường nào đó có khả năng sẽ phải trả giá bằng biện pháp chống bán phá giá ở một số quốc gia, là điều rất bất lợi cho Việt Nam.

            Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng sẽ tăng lên vì với chính sách kích cầu và đầu tư, không thể tránh khỏi việc cho vay trở nên dễ dãi, và rất thường xuyên là hậu quả của sự can thiệp hành chính từ chính quyền trung ương và địa phương nhằm can thiệp vào quyết định cho vay của ngân hàng vào một ngành, một doanh nghiệp nào đó theo hướng đi ngược lại những quy tắc phòng ngừa rủi ro và bảo toàn vốn. Mà bằng chứng cho sự can thiệp này đã ngày càng bộc lộ rõ qua những thông điệp của giới chức đăng tải trên các phương tiện thông tin hàng ngày.

            Đồng tiền của Việt Nam sẽ bị mất giá mạnh song song với xu hướng nới lỏng chính sách tiền tệ. Lãi suất VND giảm, trong khi lãi suất ngoại tệ được quyết định bởi thị trường tiền tệ thế giới. Mà trong hoàn cảnh hiện nay, đồng USD đang tỏ ra ngày càng khan hiếm ở nhiều nước, USD đang lên giá so với nhiều nội tệ khác. Bởi vậy, VND có lẽ sẽ không tránh khỏi việc bị mất giá mạnh so với USD. Hơn nữa, Chính phủ có lẽ sẽ khó/không can thiệp để ổn định tỷ giá (thực chất là giữ cho VND không bị mất giá mạnh so với USD) vì điều này là có lợi cho xuất khẩu, là cái mà chúng ta đang mong muốn kích thích. Kết cục tiếp theo của việc này là người dân sẽ tiếp tục quy đổi tài sản của mình sang USD, làm trầm trọng thêm nạn đôla hóa, và làm cho chính sách tiền tệ mất bớt tác dụng trong việc kiềm chế lạm phát một khi lạm phát nổ ra.

            Trên đây mới chỉ là một số hậu quả có thể nhìn thấy, có thể chỉ ra ngay khi chúng ta thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ nhanh và mạnh như hiện nay và có khả năng tiếp tục trong thời gian tới. Rất tiếc là luồng dư luận dường như đã quên lãng, xem nhẹ những nguy cơ này mà chỉ chăm chăm vào tác dụng của việc kích cầu. Thái độ này sẽ để lại những tổn thất lớn khi những nguy cơ này trở thành hiện thực, như bài học ở trên thế giới và ngay cả Việt Nam đã cho thấy trước đây.


Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).