Friday, 20 April 2012

Tớ thực sự không muốn là con chim báo bão


Tối nay, tớ đọc được cái tin báo CPI của Hà Nội tháng 4 này đã bị âm và chắc chắn rằng CPI của cả nước sẽ nhỏ hơn 0.1% mà giật cả mình. Chắc chắn rồi thì từ ngày mai sẽ có một loạt ý kiến gay gắt hơn nữa đòi hỏi chính phủ phải giảm lãi suất, tăng cung tiền, kích cầu hết cỡ để cứu cái này, cái kia. Ôn cố tri tân, tới nhớ lại bài dưới đây, viết vào ngày 25/3/2009 (sau ngày công bố CPI của cả nước ở mức âm), đăng trên tờ Đại biểu Nhân dân, và post lên đây để độc giả tiện so sánh sự tương đồng giữa hai thời kỳ và kết quả của những dự đoán trong bài, từ đó liên hệ đến triển vọng lạm phát trong nửa cuối năm nay và đầu năm sau. Tớ thực sự hy vọng rằng lần này tình hình sẽ không diễn ra giống như những tiên đoán hồi năm 2009, không thì khốn khổ cho Việt Nam lắm lắm.


Không thể chủ quan với nguy cơ lạm phát trở lại

            Chỉ số giá cả tiêu dùng tháng 3 đã giảm lại về mức âm sau 2 tháng tăng, đặc biệt trong tháng 2. Điều này đã dẫn đến những kiến nghị tích cực kích cầu, rót vốn hơn nữa cho nền kinh tế mà không sợ lạm phát quay trở lại.

            Những kiến nghị này thường dựa trên lập luận rằng giá cả giảm là do sức cầu trong nước yếu và một phần là do ảnh hưởng của sụt giảm giá cả trên thế giới. Trong xu thế nhu cầu nội địa tiếp tục suy yếu (và không thấy đề cập gì đến xu hướng giá cả thế giới), một số người cho rằng nếu và cần phải tích cực kích cầu mạnh và đẩy nhanh cho vay hơn nữa cũng sẽ không làm cho giá cả tăng, mà dẫn chứng sống động là chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 này đã sụt giảm.

            Trong lập luận trên có một số điểm bất ổn. Thứ nhất, chương trình cho vay kích cầu mới chỉ thực sự được khởi động trong thời gian gần đây, và quy mô còn nhỏ so với kế hoạch. Hơn nữa, dư luận cũng đã đề cập đến tình trạng đi vay để đảo nợ của doanh nghiệp, nên mặc dù dư nợ cho vay mới có tăng lên, người ta còn phải kể đến số dư nợ bị giảm do doanh nghiệp trả lại nợ cũ. Bù trừ qua lại thì tổng dư nợ thực trong nền kinh tế có thể không tăng mạnh như người ta tưởng, và do đó tác động lên lạm phát từ nguồn này có thể là chưa “lộ mặt”, chưa rõ nét. Tình hình có thể sẽ khác đi nhiều sau một vài tháng hoặc thậm chí cả hàng năm nữa khi tình trạng đảo nợ chấm dứt và các doanh nghiệp tích cực vay vốn mới để đổ vào sản xuất, đầu tư do lãi suất tiếp tục được hạ thấp xuống hoặc doanh nghiệp tiếp tục được hỗ trợ về lãi suất.

            Thứ hai, tuy rằng giá cả thế giới sụt giảm làm cho giá cả hàng nhập khẩu cũng suy giảm, làm giảm áp lực lạm phát ở Việt Nam, nhưng cần lưu ý rằng VND đang có xu hướng mất giá so với USD (mới đây nhất là mở rộng biên độ lên 5%) và do đó hàng nhập khẩu tính theo VND không nhất thiết giảm hoặc giảm mạnh như xu hướng giá cả quốc tế cho thấy. Một minh chứng rõ ràng rằng một số mặt hàng tiêu dùng như sữa tiếp tục xu hướng tăng, mặc dù đúng là giá sữa bột bằng USD đã giảm nhiều so với trước đây.

Hơn nữa, giá cả thế giới đã giảm mạnh trong thời gian qua nhưng không có gì đảm bảo rằng chúng sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới. Giá cả nhiều hàng hóa sẽ ổn định, tuy ở mức thấp, vì nhiều trong số chúng đã tiệm cận hoặc thậm chí thấp hơn cả giá thành sản xuất, hoặc giả nhà sản xuất đã thi nhau cắt giảm sản lượng để duy trì biên độ lợi nhuận (như sắt thép, dầu mỏ). Trong bối cảnh này, dự đoán giá cả thế giới tiếp tục suy giảm là một sự đánh cược mang tính cờ bạc hơn là xuất phát từ cơ sở kinh tế.

Thứ ba, tuy tăng trưởng GDP đã chậm lại rõ rệt và tương ứng với điều này là suy giảm thu nhập của dân cư và doanh nghiệp. Nhưng cũng cần lưu ý rằng cho dù GDP có tăng trưởng với tốc độ nhanh như trong năm 2007 và 2008 thì tốc độ tăng trưởng cũng chỉ là 8%-8,4%/năm. Với tốc độ tăng dân số trên 2%/năm thì dù với tốc độ tăng trưởng GDP như vậy thu nhập bình quân đầu người và, do đó, mức chi tiêu khả dụng, cũng chỉ tăng khoảng trên dưới 6%/năm là nhiều. Như vậy, khó có thể nói mức tăng thu nhập là một yếu tố quan trọng trong việc châm ngòi cho lạm phát ở Việt Nam. Điểm lại diễn biến lạm phát trong mấy năm qua, đặc biệt năm 2008 có thể thấy rõ rằng cung tiền, với tốc độ tăng đến gần 50%/năm mới là “thủ phạm” chính gây lạm phát. Với logic này, nay mức chi tiêu khả dụng, hay nói cách khác, cầu nội địa có suy giảm một vài điểm phần trăm (chứ cũng không về mức 0) thì cũng chỉ làm bớt đi một chút áp lực lạm phát ở Việt Nam.

Thứ tư, một lý do quan trọng trong việc giảm nhu cầu tiêu dùng nội địa không phải đến từ giảm thu nhập dân cư mà là tâm lý “tích cốc phòng cơ”, khi người dân tiên liệu những khó khăn trước mắt nên cắt giảm chi tiêu và đầu tư vào những tài sản sinh lãi và bảo toàn được giá trị. Điều này cũng góp phần làm giảm giá cả tiêu dùng ở Việt Nam trong thời gian qua. Nhưng xu hướng này sẽ đảo ngược nhanh chóng khi tình hình được cải thiện, hoặc triển vọng kinh tế trở nên sáng sủa hơn, đi đôi với nó là gia tăng áp lực lạm phát trong lúc năng lực cung chưa kịp phục hồi để đáp ứng. Liên quan đến điểm này, cần lưu ý rằng người Việt Nam được đánh giá là có lòng tin tiêu dùng lớn nhất ở khu vực trong năm 2008.

Nói tóm lại, giá cả trong tháng 3 đã giảm nhưng cần nhìn nhận và diễn giải hiện tượng này một cách thận trọng và sáng suốt hơn. Điều này có thể là do giá cả thế giới đã giảm trong thời gian qua, tâm lý người tiêu dùng tiếp tục bi quan, còn cung tiền thì chưa tăng mạnh. Tuy nhiên, như đã phân tích, những xu hướng trên hoàn toàn có thể đảo ngược trong thời gian ngắn tới đây, và do vậy, việc giảm giá tiêu dùng trong tháng 3 cũng chỉ nên coi là một hiện tượng có tính nhất thời, và điều đáng lo ngại hơn đang chờ đợi chúng ta ở phía trước chính là lạm phát.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).