Sunday, 8 April 2012

Trả lời các comment khác của đồng chí TL

Đồng chí TL lại có 3 thêm comment. Tớ muốn trả lời trong mục comment mà không hiểu sao các 2 comment của TL lại không hiện ra nên tớ đành nhặt 2 cái comment đó đưa vào thành một entry mới này để trả lời cho tiện.

---------------------------------------------------------------------------------
TL viết: All in all, tương đối nhất trí với quan điểm của anh, có 1 vấn đề này: biện pháp sáp nhập, xử lý các NHTM cổ phần nhỏ xuất phát từ mục tiêu khó khăn và phức tạp nhưng phải làm được và làm tốt là xóa bỏ sở hữu chéo giữa các NHTM, 1 số DN lớn và 1 số nhân vật có máu mặt trong giới. Hiện tại, số lượng khác hàng lớn và người có liên quan (bao gồm các loại dây nhợ sở hữu chéo) thường chiếm chắc phải quá 3/4 tổng dư nợ toàn hệ thống. Cộng thêm với việc sở hữu chéo nhau sẽ làm chartered capital của các NHTM được đẩy lên cao, thực chất là vốn "ảo". Em ko có thời gian nên nói qua thế. A có thêm cao kiến gì thì xin chỉ giáo
T.L


Ngọc trả lời: Vấn đề sở hữu chéo không phải là vấn đề mới, chỉ có riêng ở Việt Nam mà đã có tiền lệ. Anh không biết chắc về chuyện này có ở những nơi nào, mức độ như thế nào nên không dám nói nhiều/liều, nhưng có điều chắc chắn là một vấn đề lớn ở Nhật khi tình trạng sở hữu chéo giữa các tập đoàn, công ty lớn là khá phổ biến. Và hình như luật pháp Nhật cũng vẫn để nguyên cho tình trạng này (đồng chí nào biết thì sửa chữa/bổ sung giúp tớ nhé). Anh không nhớ rõ lắm hậu quả của vấn đề này, chỉ võ đoán rằng nó sẽ làm tăng rủi ro cho đổ vỡ mang tính hệ thống khi một thằng chết sẽ kéo theo nhiều thằng khác chết. Vì vậy, anh suy ra rằng việc sở hữu chéo thực ra sẽ chẳng bao giờ được đặt ra/thành vấn đề ở Việt Nam nếu hệ thống ngân hàng chưa phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng mang tính hệ thống, và nếu NHNN không ra cái luật yêu cầu các ngân hàng thương mại phải đáp ứng được quy mô vốn tối thiểu là bao nhiêu. Do cái yêu cầu này, các ngân hàng biết là không đáp ứng được thì buộc phải tìm cách xoay bằng cách sở hữu chéo như vậy. Cách xử lý thực ra đơn giản, hãy lờ đi chuyện này (nếu chuyện sở hữu chéo chỉ là giữa một nhóm ngân hàng không lớn, và do đó sẽ không làm tăng rủi ro đổ vỡ hệ thống), và/hoặc không buộc các ngân hàng phải đáp ứng được quy mô vốn tối thiểu nữa. Anh cũng luôn nhấn mạnh rằng, giống quy mô của doanh nghiệp, không cần phải ra cái yêu cầu ngân hàng phải có vốn tối thiểu là bao nhiêu mới được hoạt động. Thay vào đó, chỉ cần ra cái yêu cầu (và theo dõi sát sao) là các ngân hàng phải luôn đáp ứng được tỷ lệ an toàn vốn theo các tiêu chuẩn thế giới (Basel II, III) là ok rồi.

À mà viết đến đây, anh chợt nhớ ra là xu hướng sở hữu chéo này hiện vẫn là phổ biến trên thế giới khi mà ngân hàng trên thế giới này mua cổ phần của ngân hàng trên thế giới kia đấy chứ? Tức là chuyện sở hữu chéo này vẫn được thừa nhận và coi là bình thường trên thế giới, trừ khi cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia không cấp phép cho một thương vụ mua bán nào đó kiểu này.

TL viết: Trước hết phải cảm ơn anh vì quick reply, thôi bây giờ ta chơi bài ngửa với nhau nhé. Anh đọc của em từ đầu thì thấy em vừa đưa ra lý do bào chữa cho vấn đề hạ lãi suất, vừa đưa ý kiến phản bác chuyện đấy. Về mặt học thuật, đa phần em nhất trí với anh, về mặt thực tiễn có những cái em tự phản biện lại chủ yếu là những vấn đề mình phải giải thích 1 cách hợp tình hợp lý để bảo vệ quan điểm, bên cạnh ổn định kinh tế vĩ mô phải bảo đảm an sinh xã hội, thế đấy. Mục đích là cần thêm thông tin, cần thêm biện luận cho các vấn đề còn ý kiến khác nhau. Tháng trước em đã nói với bạn em khi Thống đốc mới tuyên bố chứ chưa thực sự hạ lãi suất là em ko tin đấy là tín hiệu NHNN sẽ nới lỏng cstt, vì quá nhiều lý do như em nói ở trên, với cái sức ép như thế chỉ trong vòng 1, 2 tháng tới sẽ phải mạnh tay thắt chặt chứ ko thì vỡ nợ vì lạm phát, nhưng thực tế em biết là NHNN vẫn âm thầm bơm tiền, thời gian trước bơm ra mà vẫn chưa hút nổi về hết đâu, giờ tiếp tục bơm cho những chú còi thì chúng nó đúng là thâm dụng vốn nhà nước mà chả có chế tài gì để xử lý, đáng nhẽ là những chú đấy phải coi như đã được quốc hữu hóa rồi sau đấy bán lại cho ai có năng lực chứ, nó ko chịu --> NHNN cũng chịu, that's a bullshit. Một số điểm cám ơn anh nhắc em nhớ lại cái lăn tăn của em về thanh khoản của ngân hàng, nói thực lòng em ko sure về tính thanh khoản của cả hệ thống NH như báo cáo của NHNN có nói. Ngoài ra, sức của NHNN bây giờ ko thể chống đỡ nổi biến động về tỷ giá nữa đâu, theo khuyến cáo của IMF dự trữ ngoại tệ nên ko dưới 14 tuần nhập khẩu của mình giờ được 45% số đấy, lực đâu ra? Chưa kể tiềm lực của black market giờ khác xưa nhiều lắm rồi. Nhưng để phản bác 1 cách hợp tình hợp lý và đưa ra giải pháp thật sự hữu hiệu là vấn đề em thực sự chưa nghĩ ra hết. Thế nên cần thêm phản biện của những nhà kinh tế học khác. Về phần DN, những DN  còn sống sót và làm ăn chân chính, đúng là lãi suất cao ảnh hưởng đến họ nhưng ko thể hại chết họ, cái họ muốn chăng giá mà được tiếp cận vốn rẻ của nhà nước, vấn đề này thì no way. Còn tiếp tục duy trì lãi suất cao thế này lâu dài chắc làm kiệt quệ sức lực DN nhưng 1 thời gian nữa thì ko vấn đề gì. Những thằng kêu nhiều nhất thường là gặp vấn đề với NH, như phân tích ở trên những chú đấy chết chủ yếu vì BĐS và chứng khoán thôi, quan điểm của em là tranh thủ thanh lọc luôn, ngân hàng nhà mình luôn tiềm ẩn "moral hazard" một cách nặng nề thế nên cái khó lại càng thêm khó. Nhưng vấn đề các bác lăn tăn, mấy chú ra đi kéo theo hàng vạn hàng vạn người làm công, xử lý sao đây? Chả may có bất ổn gì về xã hội thì... cái đấy các bác còn lo hơn lạm phát nhiều. Thế nên để phân tích làm sao cho được cái đấy lại là vấn đề khác. Bên tỷ giá, theo anh có nên phá giá VND tiếp không? Devaluation VND thì sẽ làm gánh nợ bằng ngoại tệ tăng khơ khớ đấy, giải quyết sao đây anh? Tất nhiên, 1 mặt nó tốt cho XK nhưng, mặt khác mình toàn nhập siêu, e đoán khả tăng vài tháng tới nhập siêu tăng lên thì depreciation cũng oải? Thả nổi tỷ giá ai cho? Chắc phải nhờ anh George vào speculative attack phát quá hehe. Anh đánh giá thế nào về sự phối hợp chính sách tiền tệ và tỷ giá, làm gì thì tốt theo quan điểm của anh? Về vấn đề bẫy thanh khoản em vẫn chưa 100% tán thành với anh nhưng em phải công nhận là thị trường và các con số báo cáo ko thể phản ánh thực tế, bởi trần lãi suất, bởi neo tỷ giá. Nếu thanh khoản tốt thực sự đã ko có chuyện các chi nhánh NHTM đua nhau lách luật để huy động vốn rồi, và bây giờ quả là vì họ sợ bị tóm chứ thả ra chắc lãi suất sẽ tăng kha khá. Để xem số liệu ngân hàng tháng tới thế nào, sau 1 tháng thực hiện chính sách này.
T.L


Ngọc trả lời: Anh không bàn thêm về những vấn đề em nêu ra trước cái đoạn nói về tỷ giá nữa, vì em cũng đã có câu trả lời (một phần) cho chúng rồi, và phần vì các câu trả lời cũng chỉ mang tính tương đối thôi. Anh chỉ bàn thêm về chuyện có nên phá giá VND tiếp tục không. Theo anh thì nên phá giá khi có áp lực. Áp lực này thể hiện rõ khi NHNN phải (tiếp tục) dùng các biện pháp hành chính (mạnh hơn) để giảm áp lực. Trước đây anh có viết một bài nhan đề “Khi VND lên giá” đăng trên VnEconomy (bản đầy đủ thì chẳng hiểu tại sao lại xuất hiện ở Dân Trí; em google để tải về xem), trong đó có phân tích thiệt hơn chuyện VND lên giá hay xuống giá so với USD, và kết luận cuối cùng là phá giá vẫn hơn. Mới đây hơn (hồi tháng 12 thì phải) thì trên VEF anh có đăng bài “Nên ứng xử thế nào với tỷ giá VND”, anh cũng khuyên là không nên cố gắng kiềm giữ tỷ giá, và tốt nhất là NHNN nên lựa chọn thái độ mập mờ, đừng có ra miệng tuyên bố là sẽ ổn định tỷ giá, mà cũng đừng thừa nhận là sẽ phá giá. Em lưu ý là trong bài trên VEF, anh phân tích rằng phá giá VND thì chỉ có nợ nước ngoài của các doanh nghiệp là tăng lên khi tính bằng VND, và chúng sẽ luôn kêu gào phải ổn định tỷ giá (thậm chí là tăng giá VND), vì chỉ có NHNN bị thiệt khi phải bù lỗ cho chúng nếu cố gắng ổn định tỷ giá bằng cách xuất dự trữ ngoại tệ ra. Đối với nợ Chính phủ, khi ổn định được tỷ giá thì có nghĩa là NHNN mất đi một phần dự trữ ngoại tệ tương ứng để ổn định tỷ giá. Còn nếu phá giá thì nợ Chính phủ có tăng lên khi tính bằng VND nhưng bù lại, quỹ dự trữ ngoại tệ của NHNN không suy xuyển, và tức là Nhà nước Việt Nam không thiệt hại gì về net cả (VND thì do NHNN in ra, tổng số USD Nhà nước Việt Nam cần trả nợ thì không đổi), và chỉ có bọn doanh nghiệp là bị thiệt hại vì phải mất thêm nhiều VND hơn mua cho đủ số ngoại tệ đã vay để trả nợ.
Về phối hợp chính sách tiền tệ và tỷ giá, câu hỏi này quá rộng, vì câu trả lời sẽ tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, từng thời điểm. Chẳng hạn, lúc này, lạm phát vẫn còn cao, kỳ vọng lạm phát vẫn còn, thì việc mở rộng chính sách tiền tệ là điều cần cực kỳ cẩn trọng, nên, vì thế, lãi suất sẽ nên/phải đừng có hy vọng sẽ giảm nhanh chóng. Hậu quả/kết quả của chính sách tiền tệ có nới lỏng nhưng thận trọng như vậy sẽ dẫn đến áp lực phá giá VND sẽ vẫn còn, nhưng ở mức ít hơn nhiều (lưu ý là với điều kiện không đổi về mức độ tự do lưu chuyển vốn ra vào Việt Nam) và NHNN có thể có nhiều room để điều chỉnh tỷ giá hơn (nhưng vẫn nên theo hướng phá giá dần theo hướng nới lỏng của chính sách tiền tệ, dù lộ trình, mức độ và thời điểm phá/điều chỉnh tỷ giá nên là bất ngờ với thị trường để dẹp speculation).

Về chuyện lãi suất sẽ tăng vọt sau khi bỏ trần lãi suất, anh đã nói đó là kết quả có thể nhìn thấy trước. Nhưng điều quan trọng là sau đó. Mà như anh đã nói (và tin như vậy), sau một thời gian (có thể chưa biết trước được), lãi suất cả huy động và cho vay đều sẽ phải hạ đi. Dù kết quả có thế nào chăng nữa nhưng phương án bỏ trần lãi suất sẽ cho kết quả đỡ xấu hơn là phương án duy trì hoặc, tệ hơn, thậm chí là hạ trần lãi suất huy động xuống nữa.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).