Friday, 29 June 2012

Tái cơ cấu kinh tế và cơ hội cho kinh tế tư nhân (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

Bài này tới viết theo đặt hàng của một tạp chí ở Bộ nọ, nhưng bị đồng chí PGS. TS. Tổng biên tập XYZ của tờ tạp chí này phê bình nguyên văn (thông qua biên tập viên) như sau: “sếp em (Ngọc: tức đồng chí PGS. TS. Tổng biên tập XYZ, sếp của đồng chí biên tập viên) nói rằng rất hoan nghênh cách nhìn nhận của anh trong giai đoạn này, tuy nhiên, bởi bên em  là Tạp chí nên nói gì cũng cần có dẫn chứng, có phân tích để đưa ra luận điểm. Tạp chí em một bài viết có thể khoảng 3.000 từ. Do đó, có rất nhiều đất ể các nhà khoa học, nhà nghiên cứu có cơ hội để minh chứng, dẫn giải cho luận điểm của mình. Vì thía, rất mong anh có thể khẳng định những luận đểm của mình là đúng bằng cách minh chứng cho người ta thấy: TÔI NÓI CÓ CƠ SỞ chứ không phải TÔI THÍCH GÌ NÓI ĐẤY. Thứ hai, sếp rất mong anh làm rõ cho kết bài sao cho nhấn mạnh rằng: Cơ hội cho kinh tế tư nhân thực sự như thế nào trong quá trình tái cơ cấu.”

Tớ nghe đồng chí PGS. TS. Tổng biên tập XYZ phê phán như vậy nên hãi quá, chẳng dám ho he tranh luận, sửa chữa gì nữa vì ngay cả đến kỹ năng viết lách cơ bản mà tớ còn không nắm được, viết để đến nỗi đồng chí XYZ này thấy tớ THÍCH GÌ NÓI ĐẤY mà chẳng dựa trên cơ sở gì. Tớ đành phải lẳng lặng gửi bài sang tờ Đại biểu Nhân dân. May quá, các đồng chí bên đó không biết chuyện và cũng khá dễ tính với tớ nên nhận lời đăng mà không vặn vẹo, phê phán này kia (chắc vì không phải là PGS. TS.). Thật hú vía!  Lần sau chắc tớ có gửi đăng bài ở báo nào thì phải điều tra trước xem báo đó có đồng chí PGS. TS. nào không thì mới dám gửi.
---------------------------------------------------

Tái cơ cấu kinh tế và cơ hội cho kinh tế tư nhân

08:34 | 30/06/2012
Lại thêm một lần nữa nhu cầu cấp thiết của tinh thần “đổi mới hay là chết” được đặt ra, nhưng lần này là dưới một tên gọi khác thời thượng hơn, TÁI CƠ CẤU KINH TẾ, mặc dù về bản chất thì cũng như nhau.

Nguồn: ITN
Cần nhận thấy rằng đã có rất nhiều ý kiến liên quan đến vấn đề tái cơ cấu kinh tế, nhưng xem ra chuyện tái như thế nào chưa được nhận thức thật đầy đủ và đưa vào chương trình hành động một cách đúng đắn và hợp lý. Chính phủ là nơi chịu trách nhiệm soạn thảo và đệ trình một bản đề án tái cơ cấu. Mặc dù có một đội ngũ chuyên gia và tư vấn hùng hậu nhưng những bản dự thảo của Chính phủ luôn vấp phải những chỉ trích, phê bình tuy nặng nề song không ít trong số chúng là hợp lý, chính xác.
Vấn đề nhận thức và hành động liên quan đến tái cơ cấu nêu trên rất quan trọng vì nó sẽ quyết định xu hướng ảnh hưởng của tái cơ cấu kinh tế nói chung lên thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong thời gian tới.
Cụ thể hơn, trước tiên, vai trò và số phận của khu vực kinh tế tư nhân sẽ phụ thuộc vào việc khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) sẽ được đối xử thế nào trong chương trình tái cơ cấu kinh tế mà giả sử là sẽ đạt được sự đồng thuận cao và bắt đầu được tiến hành trong thời gian tới. Một khi số phận của một nền kinh tế nào đó vẫn được đặt vào trong tay một chủ thể kinh tế nhất định nào đó một cách hợp pháp hoặc ngầm định bằng những ưu đãi cụ thể (được ưu tiên tiếp cận các nguồn lực hữu hạn) thì các chủ thể kinh tế khác sẽ bị cạnh tranh một cách bất bình đẳng và hậu quả đương nhiên là các chủ thể kinh tế này sẽ phải co lại một cách tương đối.
Ở Việt Nam, nếu vai trò chủ đạo, dẫn dắt nền kinh tế của DNNN vẫn được nhấn mạnh trong chương trình tái cơ cấu kinh tế tới đây thì các thành phần kinh tế khác bao gồm khu vực kinh tế tư nhân sẽ còn bị vòng kim cô xiết chặt. Sẽ có không ít người đưa ra ý kiến rằng tái cơ cấu là nhằm “nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN” và nhờ đó sự tiếp tục tồn tại ở vai trò chủ đạo của DNNN không những là điều hợp lý mà còn là cần thiết. Tuy nhiên, cứ giả thiết rằng tái cơ cấu kinh tế quả thật mang lại hiệu quả cao hơn cho DNNN thì cái vòng kim cô kia vẫn sẽ tồn tại và các doanh nghiệp phi nhà nước sẽ còn èo uột bên cạnh các DNNN hồng hào vì được cấp đủ dinh dưỡng (hữu hạn).

Nếu việc tái cơ cấu kinh tế không được suôn sẻ như chủ trương và kỳ vọng, dẫn đến tình trạng DNNN tiếp tục là con nợ của nền kinh tế thì tình trạng của các doanh nghiệp phi nhà nước càng trở nên bi đát hơn khi bị các DNNN kéo xuống hố cùng chung số phận với cả nền kinh tế.
Tái cơ cấu kinh tế còn ảnh hưởng đến kinh tế tư nhân nếu nhìn từ góc độ tái cơ cấu lĩnh vực tài chính, ngân hàng, một bộ phận thứ hai trong chương trình tái cơ cấu kinh tế. Tái cơ cấu ngân hàng vẫn dường như thiên về việc sáp nhập các ngân hàng với nhau nhằm giảm đi số lượng ngân hàng được phân loại yếu kém, đồng thời tạo ra những ngân hàng quốc doanh lớn hơn rất nhiều, thậm chí mang tầm cỡ quốc tế. Cả 2 việc này đều xuất phát từ những nhận thức không hợp lý. Việc sáp nhập các ngân hàng yếu với nhau hoặc với ngân hàng mạnh tuy có làm biến mất một số cái tên ngân hàng có “vấn đề” nhưng “vấn đề” đó sẽ không tự nhiên biến mất mà chỉ chạy từ chỗ này sang chỗ khác. “Vấn đề” lớn nhất chính là cục nợ xấu to tướng trong cả hệ thống ngân hàng sẽ không mất đi đâu cả mà vẫn nằm chình ình ở đó. Vì nó mà hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục co cụm lại để xử lý nợ xấu (đôi khi mất đến nhiều năm) mà không dám, không mặn mà với việc cho vay ra nền kinh tế. Kết cục là mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân sẽ bị ảnh hưởng trước tiên vì bản chất thấp cổ bé họng của chúng trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng.
Việc tạo ra các siêu ngân hàng quốc doanh xem ra cũng chỉ xuất phát từ tư tưởng phải có một nắm đấm càng to càng tốt để đấm được thiên hạ nhằm tạo lợi thế lấn át cho mình. Nội cái chuyện to luôn là khỏe đã là một dấu hỏi to đùng nên việc theo đuổi chương trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng kiểu này trở thành rất mạo hiểm. Một trong những ngầm ý sâu xa đằng sau cái chủ trương này, ngoài chuyện đảm bảo cho hệ thống ngân hàng quốc doanh đủ tiềm lực để chi phối hệ thống ngân hàng theo ý đồ của Chính phủ, có lẽ còn là để nhằm tạo ra một hậu thuẫn vững chắc về nguồn vốn to lớn cho các tham vọng phát triển của Chính phủ được tập trung vào trong tay DNNN.
Nói cách khác, tư tưởng cố hữu cần phải có các DNNN trong các lĩnh vực then chốt, mà trong ngành ngân hàng chính là các ngân hàng quốc doanh lớn, để can thiệp và điều khiển nền kinh tế theo ý muốn dường như vẫn còn nguyên đó. Ngoài ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp của chủ trương này lên toàn bộ nền kinh tế nói chung (ví dụ, nền kinh tế tiếp tục mất lợi thế cạnh tranh vì các nguồn lực được phân phối theo ưu tiên nhiệm vụ), khu vực kinh tế tư nhân cũng sẽ là nạn nhân gián tiếp của chủ trương này khi nguồn vốn tín dụng tập trung trong tay các ông lớn ngân hàng quốc doanh với thị phần càng ngày càng lấn át và với khách hàng truyền thống và ưa thích (hay được khuyến khích) vẫn là các DNNN.

Một cấu thành quan trọng khác trong tái cơ cấu kinh tế được xác định là tái cơ cấu đầu tư công. Ảnh hưởng của việc tái cơ cấu đầu tư công lên khu vực tư nhân có thể diễn ra ở cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực, tất nhiên vẫn tùy thuộc phần lớn vào nhận thức và thái độ hành xử của nhà nước trong quá trình thực thi.

Trường hợp đầu tiên có thể xảy ra là đầu tư công bị thắt lại (ở mức tương đối so với GDP) nhằm đảm bảo thâm hụt ngân sách ở mức an toàn và với giả thiết là được sử dụng ở mức có hiệu quả hơn (tức là giảm đi phần mất mát do lãng phí và tham nhũng) nhờ các biện pháp cải cách và tăng cường minh bạch trong đầu tư công. Tùy thuộc vào mức độ cắt giảm tương đối và sự cải thiện hiệu quả mà đầu tư công có thể tăng lên hoặc giảm đi về mặt tuyệt đối. Với giả thiết là hiệu ứng lan tỏa từ đầu tư công ra toàn bộ nền kinh tế nói chung và khu vực tư nhân nói riêng không thay đổi thì sự tăng lên hay giảm đi về mặt tuyệt đối của đầu tư công sẽ kích thích hoặc thu hẹp tương ứng tác động lan tỏa lên khu vực tư nhân. Khả năng xấu nhất sẽ xảy ra khi mà đầu tư công bị thắt lại cả về mặt tương đối và tuyệt đối và (vì thế) được nhà nước xác định ưu tiên dành cho, hoặc đầu tư thông qua các DNNN. Khi đó đương nhiên khu vực tư nhân sẽ chẳng còn được hưởng mấy lợi ích từ đầu tư công.
Trong trường hợp đầu tư công vẫn đứng ở mức cao cả tuyệt đối và tương đối so với GDP (trong một thời gian nhất định) và với hiệu quả được nâng lên, nếu nhà nước đối xử bình đẳng hơn với các doanh nghiệp tư nhân thì hiệu ứng lan tỏa từ công cuộc tái cơ cấu đầu tư công lên khu vực tư nhân sẽ lớn hơn. Tất nhiên, nếu DNNN tiếp tục được xác định là đối tượng được ưu tiên trong việc lựa chọn tiến hành các dự án đầu tư công thì lợi ích mang lại từ tái cơ cấu đầu tư công cho doanh nghiệp tư nhân sẽ chẳng còn là bao.

Tóm lại, điểm qua 3 lĩnh vực chính sẽ diễn ra tái cơ cấu ta có thể thấy quan niệm của những nhà làm chính sách về vai trò của DNNN trong nền kinh tế sẽ quyết định phạm vi và chiều hướng ảnh hưởng của tái cơ cấu nền kinh tế nói chung lên khu vực kinh tế tư nhân. Chừng nào mà DNNN còn được xác định là quả đấm, là công cụ điều tiết vĩ mô, có vai trò chủ đạo, dẫn dắt toàn bộ nền kinh tế thì chừng đó vai trò và tầm quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân còn lu mờ, èo uột. Ngay cả khi có chủ trương tăng tính minh bạch, hiệu quả hoạt động của DNNN thì điều này thực tế cũng khó xảy ra và vì thế cũng không giúp gì cho khu vực tư nhân, đơn giản vì nếu buộc phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác một cách bình đẳng thì chẳng DNNN nào thực hiện được tốt cả 2 vai, vừa kinh doanh có lãi, lại vừa thực hiện được vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô (phi lợi nhuận) cả.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).