Friday, 6 July 2012

Nợ xấu mới chỉ là một phần của câu chuyện (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

Lại thêm một lần nữa, nhiệm vụ trọng tâm trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam bị thay đổi, từ sáp nhập ngân hàng đã biến thành giải quyết nợ xấu. Nhưng giải quyết nợ xấu chỉ là một vế cho việc phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới. Vế quan trọng không kém là phải phục hồi được niềm tin của nhà đầu tư, đầu cơ và người tiêu dùng.
Chỉ mới mấy tháng trước đây, việc sáp nhập ngân hàng yếu kém với nhau hoặc với các ngân hàng khỏe hơn được coi là nhiệm vụ trọng tâm của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và toàn hệ thống ngân hàng để làm cái việc là, theo giải thích của NHNN, chấm dứt tình trạng chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng nhằm kéo giảm lãi suất cho vay xuống. Chủ trương và hành động thời gian đầu thì rất quyết liệt, mạnh bạo, nhưng rồi càng về sau thì sự trễ nải càng lớn, và mọi việc trở nên dở dang, như dần rơi vào quên lãng.

Đến thời gian gần đây, nhiệm vụ trọng tâm lại biến thành giải quyết nợ xấu. Nợ xấu trong hệ thống ngân hàng đang được coi là cục máu gây tắc nghẽn nguồn cung tín dụng cho doanh nghiệp và người tiêu dùng ở Việt Nam. Tập trung giải quyết được cục nợ xấu, với con số tạm thời coi là chính xác từ NHNN là khoảng 10% tổng dư nợ trong hệ thống ngân hàng, tức tương đương khoảng trên 10 tỷ USD, được coi là nhiệm vụ then chốt, mang tính quyết định cho việc phục hồi tăng trưởng kinh tế trong nửa năm nay và sang các năm sau.

Lý giải cho việc này, các nhà chức trách cho rằng, một khi còn ôm một khối nợ xấu lớn thì các ngân hàng thương mại còn phải cắt giảm nguồn vốn sẵn có cho vay, hoặc còn ngần ngại không dám cho vay ra nền kinh tế, và cho vay với lãi suất hợp lý. Trong bối cảnh bị cục nợ xấu treo trên đầu, các ngân hàng thương mại vừa phải dành một tỷ trọng vốn nhất định để bổ sung vào quỹ dự phòng nợ xấu (và làm giảm lượng vốn có thể cho vay ra ngoài), vừa phải duy trì lãi suất tương đối cao để bù đắp lại phần thiếu hụt trong nguồn vốn có thể cho vay.
Lý giải trên là đúng, nhưng chưa đủ để cho rằng giải quyết được nợ xấu là chìa khóa cho mọi vấn đề, cho sự trì trệ của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, theo cách dùng từ của một số người.
Các ngân hàng thương mại hiện nay không thể đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng không những chỉ bởi phải đối mặt với cục nợ xấu to đùng như nói trên mà còn vì nguồn cung tín dụng từ NHNN không thực sự dồi dào, ít nhất là cho không ít ngân hàng thương mại trong hệ thống, thể hiện ở việc lãi suất huy động vẫn còn cao, nhất là ở kỳ hạn trên 12 tháng là kỳ hạn thoát khỏi phạm vi kiểm soát của trần lãi suất. NHNN cũng có mối lo riêng của mình khi nỗi lo lạm phát quay trở lại nếu bơm tiền ra quá nhiều vẫn còn nguyên đó. Lãi suất huy động cao như vậy cũng là lý do để ngân hàng thương mại không thể hạ thấp hơn nữa lãi suất cho vay như kỳ vọng của NHNN và của khối doanh nghiệp và người tiêu dùng. Lãi suất vẫn còn ở mức cao tương đối như vậy đương nhiên sẽ không khuyến khích doanh nghiệp và người tiêu dùng vay nhiều hơn để đầu tư, mua sắm, đầu cơ.
Nhìn từ phía cầu tín dụng, trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng chậm lại và triển vọng trong thời gian còn lại của năm nay sang năm sau không mấy rõ ràng, sáng sủa khi mà cuộc khủng hoảng nợ công ở khu vực EU và sự thăng trầm của các nền kinh tế lớn khác như Nhật, Mỹ, và ngay cả của Trung Quốc làm ta không mấy khó khăn để hình dung ra việc các doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ phải cắt giảm nhu cầu vay vốn cho đầu tư, đầu cơ, chi tiêu để phòng trường hợp xấu hơn sẽ xảy ra và lan đến Việt Nam.
Về mối quan hệ tương hỗ giữa nền kinh tế Việt Nam và thế giới, có một số người quan niệm rằng mối quan hệ này không chặt chẽ lắm, và, vì thế, ảnh hưởng của khủng hoảng đâu đó trên thế giới sẽ chỉ ở mức tối thiểu. Trên bề mặt thì có thể nghĩ như vậy, khi xuất khẩu vẫn tăng trưởng khả quan trong thời gian qua, khi thị trường tài chính của Việt Nam không liên thông hoàn hảo với các thị trường tài chính thế giới. Nhưng nếu nhìn sâu xuống một chút thì sẽ thấy ảnh hưởng này là không hề nhỏ. Ảnh hưởng này sẽ đến từ sự sụt giảm đầu tư nước ngoài. Ngay bản thân kênh xuất khẩu rốt cuộc cũng sẽ bị ảnh hưởng vì tất cả các thị trường xuất khẩu sẽ bị thu hẹp lại do nhu cầu nhập khẩu của các nước sụt giảm. Việt Nam có thể giành được lợi thế cạnh tranh, chiếm được thị phần của các nước khác trong một thời gian nào đó nhưng sẽ đến lúc các nước khác tìm mọi cách để tăng trưởng được xuất khẩu của mình, lấy đó làm lối thoát cho suy thoái kinh tế ở nước họ. Nguồn kiều hối đương nhiên cũng sẽ suy giảm khi khó khăn kinh tế ở các nước sở tại sẽ làm giảm thu nhập của người Việt sinh sống và lao động ở đó. Còn lượng vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp cũng sẽ sụt giảm khi chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam và quốc tế ngày càng có xu hướng giảm đi trong khi rủi ro ngoại hối càng ngày càng tăng lên ở Việt Nam (ví dụ, việc thắt chặt các quy định về đầu tư và chuyển tiền ra nước ngoài). Không nói đâu xa, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 đã để lại dấu ấn rõ nét lên Việt Nam trong năm 2009, dù lúc đầu có nhiều người chủ quan như nói ở trên.
Ở trong nước, nền kinh tế giảm tốc do sự thắt chặt các chính sách đi đôi với tình trạng bê bết của nhiều doanh nghiệp trong một số ngành kéo theo rủi ro đổ vỡ dây chuyền, rủi ro mất vốn, v.v... không những làm cho các ngân hàng, dù có được giải phóng từ áp lực nợ xấu hiện hữu, cũng khó dám mạnh dạn cho vay vì sợ nợ xấu sẽ tăng trở lại, mà còn làm cho bản thân các doanh nghiệp và người tiêu dùng không muốn, không mặn mà với việc đi vay để đầu tư, đầu cơ, hoặc tiêu dùng, trừ khi họ vay để đảo nợ.
Giải quyết nợ xấu chỉ là một vế của vấn đề cho việc phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian tới. Vế quan trọng không kém là phải phục hồi được niềm tin của nhà đầu tư, đầu cơ và người tiêu dùng. Mà vế này lại phụ thuộc không chỉ vào các chính sách của Việt Nam mà còn phụ thuộc (phần không nhỏ) vào tình hình và triển vọng kinh tế thế giới, là điều nằm ngoài tầm với của chúng ta. Bởi vậy, sự điều hành và phối hợp chính sách với liều lượng thắt mở hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh trong nước và thế giới từng thời điểm là điều cần thiết, tránh sự nóng vội, chủ quan, đơn giản hóa và nhìn nhận vấn đề một cách phiến diện, duy ý chí.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).