Wednesday, 11 July 2012

Trao đổi: Khác biệt trong phân loại nợ xấu ở Việt Nam (Bai dang tren Dai bieu Nhan dan)

 
Trao đổi

Khác biệt trong phân loại nợ xấu ở Việt Nam

08:36 | 12/07/2012
Có sự khác biệt rõ ràng giữa con số về quy mô nợ xấu của Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hoặc các ngân hàng thương mại Việt Nam công bố và với cũng con số đó nhưng là của các tổ chức nước ngoài công bố. Sự khác biệt lớn này là do việc phân loại nợ xấu ở Việt Nam của NHNN và/hoặc các ngân hàng thương mại dựa vào Tiêu chuẩn Kế toán Việt Nam (VAS) trong khi các tổ chức quốc tế sử dụng Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế (IAS) để phân loại nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam.
Cũng cần nhấn mạnh rằng, không có một tiêu chuẩn toàn cầu nào dùng để phân loại nợ xấu trên thực tế cả. Nhưng hiện nay hệ thống phân loại nợ xấu của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) thành 5 nhóm: Không vấn đề; Chú ý đặc biệt; Dưới chuẩn; Nghi ngờ; Mất vốn là hệ thống phân loại nợ xấu được sử dụng rộng rãi nhất. Trong một số trường hợp khác, người ta sẽ áp dụng hệ thống báo cáo kép theo vừa theo chủ trương chính sách trong nước, vừa theo phương pháp phân loại của BIS.
Theo phương pháp của BIS thì nợ xấu được phân loại cụ thể như sau:
1. Không vấn đề: là các khoản cho vay sẽ thu hồi được.
2. Chú ý đặc biệt: là các khoản cho vay các doanh nghiệp có thể có khó khăn khi thu hồi nợ, ví dụ, do tiếp tục sản xuất kinh doanh thua lỗ.
3. Dưới chuẩn: là các khoản cho vay mà tiền trả lãi và gốc bị nợ quá hạn trên 3 tháng. Các ngân hàng phải trích lập dự phòng 10% trên phần vốn cho vay không được bảo đảm và được xác định là dưới chuẩn.
4. Nghi ngờ: khả năng tất toán toàn bộ khoản cho vay tỏ ra đáng nghi ngờ, cho thấy có khả năng sẽ mất vốn, tuy nhiên mất bao nhiêu thì chưa rõ. Các ngân hàng phải trích lập dự phòng 50% cho các khoản vay nghi ngờ này.
5. Mất vốn thật sự và không có khả năng thu hồi: các khoản cho vay này được coi là không có khả năng thu hồi. Thường là các khoản vay cho các doanh nghiệp đang tiến hành các thủ tục pháp lý để được bảo vệ theo luật phá sản. Các ngân hàng trích dự phòng 100% cho các khoản vay này.
Nợ xấu được định nghĩa là các khoản cho vay rơi vào 3 nhóm cuối cùng trong hệ thống phân loại 5 nhóm nói trên của BIS. So sánh với phương pháp phân loại theo thông lệ quốc tế dựa trên IAS thì phương pháp phân loại của Việt Nam dựa trên VAS có một khác biệt rất quan trọng. Đó là, hiện tại, chỉ có phần vốn đã đến hạn thanh toán (trong một khoản cho vay nào đó) mà không có khả năng thu hồi lại được thì các ngân hàng thương mại Việt Nam mới phân loại phần vốn thất thu này, chứ không phải là toàn bộ khoản cho vay đó, thành nợ xấu. Nếu sử dụng IAS thì toàn bộ khoản cho vay đó sẽ bị liệt vào nợ xấu.
Ngoài sự khác biệt về tiêu chuẩn kế toán nói trên, nhiều ngân hàng thương mại hiện nay sử dụng các phương pháp định lượng để phân loại nợ của mình mà không quan tâm đến các yếu tố định tính, ví dụ như vị thế tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, vì thế không phản ánh được chất lượng thật sự của khoản vay của doanh nghiệp đó.
Mặc dù cả 2 phương pháp định tính và định lượng đều đã được NHNN quy định rõ trong Quyết định 493 năm 2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng, nhưng hiện tại chỉ có một số ít ngân hàng thương mại Việt Nam áp dụng cả 2 phương pháp này. Một lý do, để áp dụng được phương pháp định tính thì các ngân hàng thương mại phải xây dựng được hệ thống đánh giá tín nhiệm nội bộ vốn không dễ thực hiện. Lý do khác là vì Quyết định 493 không có các hướng dẫn rõ ràng về việc áp dụng phương pháp định tính. Nhưng lý do lớn nhất là do nếu áp dụng cả 2 phương pháp này đồng thời thì tỷ lệ nợ xấu sẽ tăng vọt, là điều không mấy ngân hàng thương mại nào mong muốn cả!
Ngoài ra, vì nợ xấu được coi là một điều “xấu” nên nhiều ngân hàng thương mại ở Việt Nam đã áp dụng các thủ thuật đảo nợ hoặc cố tình trốn tránh việc phân loại các món nợ của mình vào nhóm 3 đến 5 nói trên để có được một tỷ lệ nợ xấu “đẹp”.
Với những lý do trên, dễ hiểu tại sao tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam do NHNN và/hoặc các ngân hàng thương mại công bố (dựa trên VAS) thường khá “đẹp” (ví dụ tỷ lệ nợ xấu trong toàn hệ thống do NHNN công bố chỉ là 3,1% vào cuối năm 2011). Nếu dựa trên IAS, như tính toán của các tổ chức nước ngoài, thì con số này sẽ cao hơn nhiều lần (ví dụ, hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch đưa ra con số tương ứng là 13% vào cuối năm 2011).
Đó là chưa kể nếu còn làm chặt chẽ bằng cách áp dụng cả phương pháp định tính và định lượng cũng như kiểm soát chặt chẽ chuyện đảo nợ hoặc phân loại nợ không nghiêm túc như nói trên thì con số tỷ lệ nợ xấu thực tế ở Việt Nam có lẽ còn cao hơn nhiều.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).