Wednesday, 15 August 2012

Suy thoái kép - Cụm từ không thể sử dụng tùy tiện (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=255426
(Bài này được đăng nhanh hơn tớ tưởng)

08:47 | 16/08/2012
Gần đây, cụm từ “suy thoái kép” hay được nhắc đến bởi một số chuyên gia và quan chức như một lời cảnh báo cho một thảm họa kinh tế có khả năng xảy đến với nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên, điều đáng nói là hầu như không có cơ sở nào cho cách gán ghép cụm từ này vào tình hình hiện tại và trong thời gian tới ở Việt Nam. Bản thân các chuyên gia và quan chức cũng có những cách hiểu và diễn giải khác nhau và khác xa với cách hiểu theo thông lệ quốc tế, làm cho “suy thoái kép” trở thành sản phẩm made in Vietnam.
 
Dù chưa có một ai giải thích tường tận nguồn gốc của sự xuất hiện cụm từ trên ở Việt Nam trong thời gian qua, nhưng qua bối cảnh của các phát biểu và nhận định, có thể suy đoán rằng nó được ra đời trong hoàn cảnh chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm xuống mức âm liên tục trong 2 tháng vừa qua, còn GDP thì cũng tăng trưởng chậm lại trong 2 quý liền (quý I và II).

Nếu đúng như vậy thì cách dùng cụm từ trên rất tùy tiện, cũng giống như việc dùng lẫn lộn cụm từ “thiểu phát” và “giảm phát” vốn đang cực kỳ phổ biến hiện nay. Dường như với họ, nếu tăng trưởng GDP suy giảm thì cần được gọi đó là suy thoái, bất chấp thực tế rằng tuy tốc độ tăng trưởng GDP có giảm nhưng vẫn là dương, và còn ở mức không hề “tệ” nếu so với tình hình chung của cả nền kinh tế thế giới (ít nhất là trên mức trung bình của thế giới).

Tương tự, có lẽ chúng ta đã quá quen với thực tế rằng CPI ở Việt Nam thường chỉ có tăng lên chứ ít khi giảm đi, nhỏ hơn so với cùng kỳ năm trước. Nên nay với CPI giảm đi, người ta cũng vội vã coi đó là một dấu hiệu thứ hai của suy thoái, bên cạnh “suy thoái tăng trưởng”, đủ điều kiện để được gọi là “suy thoái kép”.

Nếu ta đi từ thông lệ quốc tế, có lẽ cụm từ suy thoái kép được dịch ra từ cụm từ “double-dip recession” và được định nghĩa như sau: “Suy thoái kép xảy ra nền kinh tế rơi vào suy thoái, theo sau là một giai đoạn phục hồi ngắn (1 hoặc 2 quý), rồi lại quay trở lại suy thoái”.

Và nếu tiếp tục theo thông lệ quốc tế thì một nền kinh tế được gọi là suy thoái khi tăng trưởng GDP tụt xuống mức âm trong ít nhất 2 quý liền nhau. Đem ghép 2 khái niệm này (“suy thoái” và “suy thoái kép”) ta có thể thấy một nền kinh tế được gọi là suy thoái kép khi nền kinh tế đó đã trải qua ít nhất là 2 quý tăng trưởng âm, theo sau là 1 hoặc 2 quý tăng trưởng dương, và lại theo sau bằng ít nhất là 2 quý tăng trưởng âm.

Như vậy, tổng cộng một chu trình suy thoái kép phải kéo dài ít nhất 5 quý, trong đó có 4 quý tăng trưởng âm. Đem điều này áp dụng ở Việt Nam, ta sẽ thấy xác suất xảy ra suy thoái kép là hầu như bằng 0 vì xác suất để xảy ra cho dù một quý tăng trưởng âm cũng đã là rất nhỏ ở Việt Nam trong năm nay và năm tới, chứ chưa nói đến hai quý liền nhau và cần tất cả 4 quý tăng trưởng âm.

Có vị học giả tuy cũng đã phủ định việc Việt Nam đã rơi vào tình trạng suy thoái kép nhưng lại lo ngại rằng suy thoái kép sẽ có thể xảy ra vào năm 2013. Lo ngại này cũng không có cơ sở nếu ta vận dụng tập hợp điều kiện của suy thoái kép nêu ở đoạn trên vào Việt Nam. Vì năm 2013 (hay năm nào cũng vậy) chỉ có 4 quý, trong khi điều kiện của suy thoái kép là phải có chu kỳ kéo dài tối thiểu 5 quý liền nhau nên trong năm 2013 chúng ta không thể nào chứng kiến nạn suy thoái kép.

Có thể có ai đó lập luận rằng biết đâu trong năm nay sẽ có một quý (chẳng hạn là quý IV) sẽ có tăng trưởng GDP âm; sang năm 2013, sẽ xảy ra tiếp 1 quý có tăng trưởng âm (quý I) theo sau bởi 1 quý tăng trưởng dương (quý II) rồi lại đến 2 quý tăng trưởng âm liên tục (quý III và IV), đủ đáp ứng điều kiện của suy thoái kép. Nhưng, như đã nói, vì xác suất để xảy ra tình trạng suy thoái kép như thế này là nhỏ hơn xác suất để cho tăng trưởng âm xảy ra trong một quý nào đó ở Việt Nam, vốn hầu như bằng 0, ít nhất trong 2 quý còn lại của năm nay và cho cả các quý năm sau, nên suy ra là chuyện suy thoái kép nếu có xảy ra ở Việt Nam thì chắc chắn không phải trong năm nay và một hai năm tới!

Có chuyên gia nêu ra ý kiến phản biện rằng khác với thế giới, nếu tăng trưởng GDP của Việt Nam cần được duy trì cao hơn một mức tăng trưởng “tự nhiên” nào đó, chẳng hạn 3% là mức tối thiểu cần có để đảm bảo việc làm và an sinh xã hội tối thiểu để không xảy ra rối loạn, chứ không phải là 0% như theo định nghĩa quốc tế nêu trên. Nếu thấp hơn mức tăng trưởng tự nhiên này thì lúc đó cần phải gọi nền kinh tế Việt Nam đã rơi vào suy thoái.

Tuy có lý nhưng ý kiến trên cũng không thể biện hộ được cho sự tùy tiện trong cách nhìn nhận của các chuyên gia và quan chức liên đới như nói ở trên. Nếu đi theo hướng gắn với tốc độ tăng trưởng tự nhiên thì những người này trước tiên phải nêu ra khái niệm suy thoái kép theo “tiêu chuẩn Việt Nam” được chấp nhận rộng rãi với cơ sở vững chắc dựa trên các nghiên cứu và đánh giá khoa học, để rồi từ đó họ mới có cơ sở để phán định rằng nền kinh tế Việt Nam đã rơi vào suy thoái kép hay không. Mà xem ra chuyện này chưa bao giờ được nhắc đến ở Việt Nam (một cách nghiêm túc)! Và cho dù nếu có xảy ra thì rốt cuộc chuyện suy thoái kép chỉ là câu chuyện mang màu sắc Việt Nam, chứ không hề có tính tương thích với quốc tế.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).