Friday, 12 October 2012

Một số dự đoán cho xu hướng chính sách tiền tệ năm 2013 (Bài đặt của một báo nhưng không được đăng)


(Một phiên bản bài này cuối cùng cũng được đăng trên Vneconomy. Biên tập ẩu quá.

Chính sách tiền tệ (CSTT) đã bước vào quý 4 và để lại một số điểm đáng chú ý đằng sau nó như tổng phương tiện thanh toán (cung tiền của NHNN, M2) đã tăng tới 10,4% trong tháng 8 so với cuối năm 2011. Tương ứng, tổng số dư tiền gửi tại các tổ chức tín dụng cũng tăng 11,2% trong cùng kỳ. Trong khi đó, tổng dư nợ tín dụng (tính đến 20/9) chỉ tăng 2,4% so với cuối năm 2011. Lạm phát đã quay trở lại một cách rõ nét với mức tăng trong tháng 9 vọt lên 2,2% so với tháng 8 và 6,2% so với tháng 12/2011, chấm dứt thời kỳ của cái gọi là “suy thoái kép”, mà một số người lo lắng sai lầm đã gán ghép cho nó khi lạm phát theo tháng giảm liên tục trong một số tháng, thậm chí xuống mức âm như vừa qua và tăng trưởng GDP theo quý cũng chững lại.

Trong bối cảnh trên, CSTT sẽ theo hướng nào trong thời gian tới là một vấn đề đáng quan tâm. Liệu M2 sẽ nên tiếp tục tăng với tốc độ tương tự năm nay, tức tới trên 15% (10,4% trong 8 tháng đầu năm, cộng thêm tối thiểu 5% cho 4 tháng còn lại của năm khi nhu cầu phương tiện thanh toán thường tăng mạnh, cũng như nhu cầu tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hơn nữa từ mức tăng “lẹt đẹt” trong suốt cả 9 tháng qua? Câu trả lời là không nên. Bức tranh kinh tế vĩ mô của 9 tháng qua khác nhiều so với những tháng còn lại của năm nay và sang năm tới.

Khác biệt đầu tiên là áp lực lạm phát đã gia tăng trở lại rõ nét, thu hẹp đáng kể dư địa cho CSTT nới lỏng của NHNN. Nếu như từ đầu năm nay NHNN đã dốc sức bơm tiền để “cứu” thanh khoản, để “cứu” tăng trưởng tín dụng nhằm “cứu” doanh nghiệp, sự bơm tiền mạnh đó chưa làm tăng đáng kể áp lực lạm phát. CSTT cần một độ trễ nhất định (vài tháng, thậm chí là 2, 3 quý) để phát huy tác dụng. Nay cũng là thời điểm để sự bơm tiền này phát huy tác dụng, thông qua chỉ báo CPI đã quay đầu tăng vọt. Thêm nữa, việc bơm tiền của NHNN thời gian vừa qua “may mắn” diễn ra trong bối cảnh tổng cầu suy giảm mạnh nên áp lực lạm phát nếu có cũng vì thế mà dịu bớt.

Khác biệt thứ hai, môi trường kinh tế thế giới đã có một số diễn biến đáng chú ý khi đồng hành với các gói kích thích kinh tế và nỗ lực bơm tiền của NHTW các nước, giá cả thế giới đã tăng mạnh ở nhiều loại hàng hóa nhập xuất nhập khẩu ở Việt Nam. Vì thế, yếu tố lạm phát đẩy sẽ phối hợp với yếu tố lạm phát từ cầu kéo do cung tiền trong nước tăng sẽ củng cố thêm xu hướng tăng của lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới.

Khác biệt thứ ba, bất chấp ai đó liên tục lôi chuyện doanh nghiệp phàn nàn khó khăn, phá sản, liên tục nói đến nguy cơ suy thoái, thực tế là kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng và mạnh dần lên, ở mức không thể gọi là không khả quan được, 4% quý 1, 4,7% quý 2 và 5.4% trong quý 3, đặc biệt trong bối cảnh toàn thế giới đang suy giảm tăng trưởng. Điều này chứng tỏ tổng cầu đã phục hồi và tăng trưởng khá mạnh ở Việt Nam, làm triệt tiêu hoặc ít ra là bớt đi nhu cầu cấp thiết phải nới lỏng CSTT để kích thích tăng trưởng như ở nhiều nước trên thế giới.

Với những yếu tố trên, sự tiếp tục nới lỏng CSTT ở mức độ lớn như năm nay trong năm tới chắc chắn sẽ đẩy Việt Nam vào lại vòng xoáy lạm phát mới.

Tuy vậy, có một số lý do mà NHNN có thể sẽ buộc phải duy trì CSTT nới lỏng ở mức độ lớn trong năm sau. Lý do thứ nhất, áp lực từ chiêu bài tăng cung tiền để “cứu” tăng trưởng tín dụng nhằm “cứu” doanh nghiệp không phải là dễ bỏ qua đối với NHNN. Cho dù rõ ràng tăng trưởng tín dụng “lẹt đẹt” như thời gian vừa qua không phải có nguyên nhân từ việc thắt chặt CSTT của NHNN, nhưng vẫn có nhiều tiếng nói kể cả của giới chuyên gia, quan chức, và Quốc hội đòi hỏi NHNN tiếp tục “hỗ trợ” ở phương diện này. Và cũng dễ thấy là NHNN không hiếm khi phải thay đổi lập trường của mình trước những áp lực như vậy.

Lý do thứ hai, với cục nợ xấu vốn đã lớn và lại có nguy cơ tiếp tục phình ra nhanh chóng song hành với sự đi xuống của thị trường bất động sản trong khi việc tái cơ cấu ngân hàng gần như án binh bất động và việc giải quyết nợ xấu vẫn còn đang ở giai đoạn... tranh cãi xem nên làm thế nào, thì  áp lực cứu thanh khoản cho hệ thống lên NHNN ngày càng lớn. Chắc chắn rằng trong số 10,4% tăng trưởng M2 nói trên có không nhỏ một tỷ lệ là dành cho cứu trợ thanh khoản trên toàn hệ thống. Hãng xếp hạng tín dụng Moody’s vừa rồi hạ hạng tín dụng của Việt Nam cũng chủ yếu vì lý do lo ngại rằng nhu cầu lớn về vốn cho việc tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng để dọn dẹp nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng sẽ đặt lên vai Chính phủ và việc bơm tiền từ NHNN là điều khó tránh khỏi. Trong tình huống khẩn cấp, với cam kết không để bất cứ ngân hàng nào đổ vỡ của NHNN, nhìn từ thực tế chuyện đã xảy ra ở ngân hàng ACB, không khó để hình dung một lượng tiền khổng lồ sẽ phải được bơm ra từ NHNN vào hệ thống ngân hàng để duy trì sự sống còn của cả hệ thống. Lúc đó, áp lực lạm phát và những bất cân đối vĩ mô đương nhiên là những vấn đề bị đẩy lùi lại trên bậc thang ưu tiên trong hoạch định chính sách.

Tóm lại, xu hướng CSTT sang năm tới rốt cuộc có nhiều khả năng sẽ phải theo hướng tiếp tục nới lỏng đáng kể (tức M2 sẽ tăng đáng kể) để hỗ trợ thanh khoản, tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng và kéo tăng trưởng tín dụng, bất chấp việc những người trong cuộc như NHNN có thể không mong muốn như vậy. Đồng nghĩa với điều này là lãi suất sẽ tiếp tục được duy trì thấp một cách khiên cưỡng còn áp lực lạm phát sẽ tăng mạnh.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).