Friday, 23 November 2012

5 nhận xét về Báo cáo tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh của tập đoàn, tổng công ty năm 2011 (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=264922

08:47 | 24/11/2012
Báo cáo tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước năm 2011; phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2012 – 2015 được Chính phủ gửi tới Quốc hội ít ngày trước phiên bế mạc Kỳ họp thứ Tư. Ngoài những con số thống kê khô khan, có một số thông tin đáng chú ý liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
Nợ lẫn nhau, chuyển nợ và cách xử lý
Báo cáo cho biết, Tập đoàn Điện lực (EVN) nợ quá hạn tới hơn 10 nghìn tỷ đồng, trong đó có nợ mua điện của Tập đoàn Dầu khí. Đáng nói là cách xử lý nợ lại như kiểu đà điểu vùi đầu xuống cát, bằng cách chỉ đạo cho khoanh nợ khoản nợ xấu này, mà về thực chất là không cho thể hiện trên sổ sách kế toán của cả 2 bên liên quan để làm đẹp tình hình kinh doanh của chúng, trong khi thực tế nợ xấu vẫn còn đó.
 
Thêm nữa, việc tái cơ cấu Vinashin với những lời hứa hẹn và cam kết tốt đẹp rốt cuộc đã không mang lại kết cục tốt đẹp như thế, với thực tế là Tập đoàn Dầu khí phát sinh khoản nợ quá hạn 1.731 tỷ đồng nhưng là do… nhận bàn giao nợ từ Vinashin! Đây là một biến thể xử lý nợ truyền thống kiểu khác, chuyển nợ từ nơi này sang nơi kia để nợ xấu đỡ gớm ghiếc hơn nhưng nợ xấu vẫn là nợ xấu và vẫn còn nguyên đó.
 
Cố tình quên bài học sơ đẳng về kinh doanh
Báo cáo nhận định: năm 2011 hoạt động sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty (TĐ, TCT) gặp nhiều khó khăn, phải đối mặt với nhiều rủi ro về tài chính như chi phí lãi vay cao (hầu hết các TĐ, TCT đầu tư dựa trên vốn vay).
 
Một cách làm thường thấy là đổ lỗi cho tình hình hoạt động yếu kém của các DNNN là do các điều kiện bất lợi của thị trường, trong đó có lãi suất cao và khó vay vốn ngân hàng. Nhưng với thực tế được thừa nhận như trên, lỗi nằm ngay ở những người hoạch định chính sách, những người quản lý, điều hành các DNNN khi chủ trương cho các DNNN sản xuất kinh doanh dựa chủ yếu trên vốn vay, và (cố tình) quên rằng kiểu sản xuất kinh doanh này thế nào cũng có ngày sập tiệm. Cũng có thể họ nghĩ rằng vốn cần vay nằm sẵn ở ngân hàng và chỉ cần một sự can thiệp nào đó là có thể vay được và xù được dưới hình thức này hay hình thức khác khi cần.
 
Nhìn nhận hời hợt và mâu thuẫn về DNNN
Báo cáo khẳng định: trong bối cảnh suy giảm kinh tế, lạm phát tăng cao giai đoạn 2010 - 2011, các doanh nghiệp nhà nước đóng góp lớn để xây dựng và phát triển KT - XH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nhưng tiếc rằng Báo cáo không nêu những dẫn chứng để chứng minh rằng DNNN “đã đóng góp lớn”, nào là bình ổn giá cả (bình ổn thế nào mà các DNNN thi nhau đòi tăng giá và đã được phép tăng một số thứ?), kiềm chế lạm phát (kiềm chế thế nào mà lạm phát lên tới gần 20% năm 2011?), nào là ổn định kinh tế vĩ mô (ổn định thế nào mà DNNN là một trong những nguồn đóng góp đáng kể nhất vào nhập siêu?) và đảm bảo an sinh xã hội (đảm bảo thế nào mà ngay cả DNNN cũng phải đau đầu với việc giảm biên chế?).
 
Chỉ có một chi tiết trong Báo cáo về sự đóng góp này, nếu có, đó là những con số về nộp ngân sách, năm 2011 tăng 10,1% so với năm 2010. Nhưng lưu ý rằng trong tổng số nộp ngân sách này có đến phân nửa là thuế GTGT và thu nhập doanh nghiệp, là nghĩa vụ bắt buộc phải nộp của mọi doanh nghiệp. Đáng nói hơn là tốc độ tăng trưởng 10,1% này nếu so với tỷ lệ lạm phát gần 20% năm 2011 thực tế là sự thụt lùi. Nói cách khác, đóng góp của DNNN vào ngân sách thực tế giảm đi trong năm 2011.
 
Báo cáo còn có những nhận định mâu thuẫn về hoạt động và vai trò của DNNN. Một mặt, Báo cáo thừa nhận (một cách đúng đắn) rằng: “Hầu hết các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa có tốc độ tăng trưởng tốt, hoạt động kinh doanh có hiệu quả”. Điều này có nghĩa là hầu hết các DNNN không tăng trưởng tốt, không hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Mặt khác, trong phần “Ưu điểm”, Báo cáo vẫn đánh giá đầy mâu thuẫn với lời thừa nhận trên rằng: hầu hết các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, đóng góp số thu cho ngân sách nhà nước. Hơn nữa, nếu là tốt như vậy thì cần gì phải đặt ra chủ trương tái cơ cấu và cổ phần hóa DNNN làm gì nữa?
 
Ngay sau đó, trong phần “Những bất cập, khó khăn”, Báo cáo lại tự vạch ra những điểm phủ nhận những đánh giá trên, như năng lực quản trị doanh nghiệp “chưa tương xứng”; chưa có sự phân định đủ rõ quyền hạn và trách nhiệm của các cấp quản lý nhà nước; sự phân công, phân cấp, giao quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Chính phủ cho Hội đồng thành viên, Ban giám đốc chưa rõ ràng; chưa có chế tài đủ mạnh để yêu cầu, buộc các DNNN thực hiện nghiêm các kiến nghị của các cơ quan quản lý nhà nước; những lỗ hổng trong các quy chế giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động v.v... Với hàng loạt những bất cập, khó khăn thế này, điều dễ hiểu, dễ hình dung là chất lượng hoạt động của các DNNN đã và sẽ ra sao, và điều khó hiểu là tại sao Báo cáo vẫn dành những lời tốt đẹp ca ngợi về vai trò và chất lượng hoạt động của DNNN.
 
Yếu kém luôn có một phần do lỗi khách quan
Phần “Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém”, Báo cáo nêu rằng: “Việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước tiến hành trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước có nhiều khó khăn, phức tạp. Sau giai đoạn khôi phục kinh tế của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 - 1998; từ năm 2008 đến nay liên tục phải ứng phó với khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu; trong nước lạm phát cao, thị trường tài chính, chứng khoán sụt giảm”. Hình như những người viết Báo cáo quên rằng nếu mọi thứ đều tốt đẹp thì đã không phải, đúng hơn là chẳng ai bận tâm đến sắp xếp với đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN làm gì cả. Chỉ khi nào có những biến động bất lợi trong và ngoài nước thì nhiệm vụ trên mới được đặt ra và coi là đương nhiên, nên cần phải coi những bất lợi này là điều kiện tốt cho nhiệm vụ này, chứ không thể/không nên đổ lỗi cho chúng.
 
Chậm chạp đến khó hiểu
Báo cáo nêu: thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI; Nghị quyết số 42/2009/QH12 ngày 27.11.2009 của Quốc hội về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, Chính phủ đang chuẩn bị ban hành ngay một số chính sách. Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao đã có Nghị quyết của đảng và Quốc hội ngay từ năm 2009 mà đến hơn 3 năm sau, Chính phủ mới “đang chuẩn bị ban hành”, mặc dù có thêm từ “ngay”, một số chính sách? Một loạt câu hỏi tiếp theo về ai, thế nào... là tất yếu sau câu hỏi này.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).