Saturday, 3 November 2012

Nên chất vấn Ngân hàng Nhà nước về quản lý thị trường vàng như thế nào? (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân, đã biên tập)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=262911

08:47 | 03/11/2012

Trong phiên chất vấn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình sắp tới đây tại Quốc hội, một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay là việc quản lý thị trường vàng của NHNN chắc chắn sẽ được nêu ra. Bài viết này phân tích và gợi ý một số điểm cần chất vấn và tranh luận với NHNN nhằm buộc họ có các biện pháp quản lý thị trường vàng ở Việt Nam đúng đắn và hữu hiệu hơn.
Câu chất vấn đầu tiên cần phải là NHNN quan niệm thế nào là “vàng hóa”. Điều này rất quan trọng vì nếu hiểu sai ngay từ khái niệm thì sẽ dẫn theo những hành động sai.

Theo giải trình hôm 3/10 của Thống đốc tại Quốc hội thì: “Trong thời gian qua, do bất ổn của kinh tế thế giới và bất ổn của kinh tế trong nước, giá vàng thế giới đã tăng cao và giá vàng trong nước có nhiều biến động thất thường. Như vậy, tình trạng vàng hóa của nền kinh tế đã được đẩy lên rất cao”.  Theo cách lý giải này, hóa ra vàng hóa là tình trạng giá vàng trong nước có nhiều biến động thất thường. Nếu thế thì sai. Vì vàng hóa chỉ tình trạng vàng đã thay thế cho VND ở một mức độ nào đó trong cả 3 vai trò (thanh toán, đo lường giá trị, và lưu giữ giá trị). Tình trạng vàng hóa càng nặng nề nếu mức độ thay thế VND ở cả 3 vai trò này càng lớn, chứ tình trạng vàng hóa chẳng có liên quan trực tiếp gì đến biến động giá vàng trong và ngoài nước cả.
Tuy Thống đốc có nói tiếp: “Theo đánh giá không chính thức sơ bộ ban đầu, trong nền kinh tế của nước ta có khoảng từ 300 - 400 tấn vàng, hay nói một cách khác là có một nguồn lực cỡ khoảng từ 15 - 20 tỷ USD không được đầu tư vào sản xuất kinh doanh và bị chôn chặt vào vàng. Hơn nữa, mỗi khi giá vàng có biến động đã làm ảnh hưởng đến tỷ giá thông qua hoạt động nhập khẩu lậu vàng gây nên ảnh hưởng đến hoạt động xuất, nhập khẩu và gián tiếp làm cho lạm phát tăng cao trong những năm qua và tạo ra sự bất ổn của kinh tế vĩ mô”, nhưng câu giải thích này cũng không có liên quan trực tiếp gì đến chuyện vàng hóa cả, nếu cứ theo lý giải bên trên. Cũng có thể, ý của Thống đốc ở đây muốn nhấn mạnh rằng lượng vàng trong dân là đã lớn đến mức mỗi khi có biến động mạnh về giá sẽ gây ra ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô thông qua hoạt động nhập lậu vàng. Nếu vậy thì việc cần làm là thắt chặt nhập (lậu) vàng chứ không phải là làm giảm bớt/thiểu lượng vàng nắm giữ trong dân.

Thống đốc còn sai khi cho rằng 15-20 tỷ đôla giá trị vàng trong dân không được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Cần khẳng định ngay không phải tất cả số vàng trên được đem cất vào két, để dưới chiếu, mà chắc chắn rằng một phần không nhỏ trong chúng đã và đang được mang ra cho vay mượn/mua bán, để đổi lấy vốn sản xuất kinh doanh, tất nhiên là thông qua các giao dịch nằm ngoài hệ thống ngân hàng (khi ngân hàng bị cấm huy động/cho vay bằng/mua bán vàng). Nói cách khác, một số lượng vàng trong dân đã và đang thực hiện các chức năng của nó trong sản xuất, kinh doanh chứ không như khẳng định của NHNN.
Cũng chắc chắn rằng một phần không nhỏ trong số trên tuy “chôn” ở đâu đó, ngoài sản xuất, kinh doanh, nhưng đây là điều tất yếu vì vàng còn được dùng làm đồ trang sức, và đồ trang sức thì đương nhiên phải nằm ngoài sản xuất, kinh doanh. Như vậy, con số vàng thực tế cần phải “huy động” trong dân không đến mức 15-20 tỷ đôla như nói trên để người ta phải hoảng sợ đến mức mà tìm mọi cách hạn chế dân giữ vàng. Ngoài ra, sở hữu/trao đổi/mua bán vàng (dùng làm) trang sức là điều không thể/nên cấm đoán được, vì đây là những nhu cầu cũng thiết yếu tương tự như với quần áo, và vì thế càng làm giảm tính cấp thiết phải ngăn chặn việc nắm giữ vàng trong dân.

Thêm nữa, hình như ông Bình quên một thực tế rằng lạm phát mới làm cho tình trạng tích trữ vàng (tức một dạng thức của vàng hóa) tăng lên khi người ta sợ tài sản của mình bằng VND bốc hơi theo lạm phát, chứ không phải ngược lại, vàng hóa gây ra lạm phát, kể cả có là gián tiếp nếu NHNN không bất cẩn với chính sách tiền tệ của mình.
Chính vì sai lầm ngay từ khái niệm nên NHNN mới có những động thái khá kỳ quặc như bình ổn giá vàng và độc quyền nhãn hiệu vàng SJC. Có lẽ NHNN chưa nhận thức được rằng để chống vàng hóa thì không có giải pháp nào khác căn bản, hữu hiệu và bền vững hơn là giải pháp tăng uy tín cho và niềm tin vào VND để người dân tự nguyện nắm giữ VND thay cho vàng trong lãnh thổ Việt Nam.

Thống đốc có lấy những ví dụ như không còn thấy người dân đổ xô đi mua vàng, mặc dù giá vàng biến động lớn nhưng tỷ giá vẫn ổn định, hệ thống ngân hàng đã mua được 60 tấn vàng v.v... để nhấn mạnh rằng các giải pháp chống vàng hóa đã phát huy tác dụng mà bỏ qua nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác. Người dân không còn đổ xô đi mua vàng nữa có thể đơn giản vì giá vàng trong nước đã trở nên quá cao so với giá quốc tế nên người ta không dám mua vào vì sợ rủi ro kép – (i) giá vàng quốc tế quay đầu, và (ii) mức chênh lệch quá lớn đến mức phi lý giữa giá vàng trong nước và quốc tế sẽ thu hẹp lại một thời điểm nào đó vì không thể ở mức phi lý mãi như vậy được. Hoặc có một lý do đơn giản hơn nữa, tài sản khả dụng của người dân hiện nay so với cách đây 2, 3 năm giảm đi nhiều vì sự đi xuống của bất động sản làm cho số vốn khả dụng có thể dùng để mua vàng không còn nhiều nữa, làm cho dòng người xếp hàng mua vàng vì thế cũng giảm mạnh (so với trước đây), gây ra ngộ nhận của NHNN rằng vàng hóa đã được kiềm chế (mà thực chất vàng trong dân vẫn còn từng đó, như nói thêm dưới đây).
Còn chuyện mặc dù giá vàng biến động mạnh nhưng tỷ giá vẫn ổn định có thể chẳng có gì liên quan đến câu chuyện chống vàng hóa thành công mà NHNN đang gán ghép cả. Tỷ giá ổn định có thể đơn giản vì nguồn cung ngoại tệ vẫn tăng lên trong khi cầu ngoại tệ (nhất là từ nhập khẩu) sút giảm. Tương tự, chuyện ngân hàng mua vào 60 tấn vàng cũng nên coi là việc bình thường khi trước đây họ đã huy động rồi bán ra một khối lượng (còn lớn hơn) từng đấy, nay phải tích cực mua vào để sẵn sàng hoàn trả cho người gửi vàng khi họ đến rút ra khi đáo hạn; và rốt cuộc lượng vàng trong dân vẫn không thay đổi, và cũng có nghĩa là tình trạng vàng hóa không thay đổi.

Tóm lại, khi chất vấn Thống đốc về các giải pháp quảnlý thị trường vàng, các đại biểu cần yêu cầu ông Bình làm rõ khái niệm, mục đích và cách thức xử lý giá vàng, quản lý thị trường vàng trong mối liên quan đến vàng hóa để từ đó vạch ra những sai lầm trong cách hiểu và hành động của NHNN như hiện tại vốn góp phần không nhỏ gây ra những rối ren không đáng có trên thị trường vàng. Trên cơ sở chất vấn vạch ra những cái sai như vậy, các đại biểu nên yêu cầu NHNN phải sửa đổi, rút lại các biện pháp quản lý thị trường vàng cũ, thi hành các biện pháp mới chống vàng hóa một cách đúng đắn và hữu hiệu.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).