Friday, 14 December 2012

“Ủy ban” không phải là chiếc đũa thần! (Bài đăng trên Đại biểu Nhân dân)

 
19:59 | 14/12/2012
Mới đây, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) đã đề xuất 4 nhóm mô hình về chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Trong 4 mô hình này, CIEM dường như nghiêng về mô hình đầu tiên, theo đó việc quản lý, giám sát toàn diện và hiệu quả DNNN sẽ được tập trung về một cơ quan chuyên trách với tên tạm gọi là Ủy ban Quản lý giám sát DNNN.
 
Theo CIEM, Ủy ban này trực thuộc Chính phủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ chủ sở hữu Nhà nước. Chủ tịch Ủy ban sẽ do Thủ tướng hoặc một Phó thủ tướng kiêm nhiệm. Phó chủ tịch Ủy ban làm việc chuyên trách sẽ có chức danh tương đương Bộ trưởng. Đoàn chủ tịch của Ủy ban sẽ có một số thành viên chuyên trách và một số thành viên kiêm nhiệm như lãnh đạo đại diện các bộ liên quan tham gia. Ủy ban cũng sẽ có bộ máy chuyên môn, nghiệp vụ theo các lĩnh vực như nhân sự và tiền lương, tài chính kế toán, tái cấu trúc, đào tạo, thống kê, pháp chế... để quản lý toàn diện hoạt động DNNN.
 
Theo mô hình này, CIEM đề nghị phải thành lập Hội đồng tư vấn gồm các chuyên gia độc lập, các nhà khoa học am hiểu sâu, rộng về lĩnh vực hoạt động của DNNN để hỗ trợ cho Ủy ban. CIEM cho rằng mô hình này có nhiều ưu điểm, mang tính tập trung cao, tách bạch được chức năng chủ sở hữu Nhà nước và chức năng quản lý Nhà nước. Viện này cũng thừa nhận rằng mô hình này có nhược điểm là sẽ phát sinh thêm một bộ máy, biên chế Nhà nước, kéo theo các vấn đề nhân sự và có thể vấp phải sự phản đối do lợi ích nhóm.
 
Xem xét kỹ hơn một chút về đề xuất này, ta có thể thấy ngoài nhược điểm hoàn toàn không phải là dễ bỏ qua mà CIEM đã thừa nhận (phát sinh thêm bộ máy...), đề xuất trên còn chứa đựng những bất ổn xem ra còn khó bỏ qua hơn nữa.
 
Bất ổn thứ nhất, đề xuất kiểu này dường như là một đại diện xuất sắc cho trường phái tư duy cái gì không quản được thì cần thiết phải có, phải thiết lập một bộ máy càng đồ sộ, càng “to” càng tốt, đặc biệt là nhất thiết phải có sự hiện diện của Thủ tướng hoặc ít ra thì cũng phải Phó thủ tướng đứng đầu. Có lẽ những người đề xuất quan niệm rằng khi có sự hiện diện của (Phó) Thủ tướng thì mọi ủy ban, tổ chức sẽ vận hành suôn sẻ hơn chăng? Nếu vậy thì cần suy nghĩ lại! Thực tế đã cho những câu trả lời rõ ràng, kể cả lời xin lỗi công khai của Thủ tướng về sự điều hành kinh tế xã - hội yếu kém của Chính phủ trong thời gian qua.
 
Thêm nữa, các tác giả của đề xuất dường như vô tình hay hữu ý quên một thực tế rằng nguyên nhân hoạt động yếu kém của các DNNN không phải là sự thiếu quyền lực (quản lý) tập trung hay thiếu sự gắn kết giữa các cơ quan hữu trách trong việc quản lý DNNN. Nhiều DNNN lớn, tập đoàn kinh tế đã và đang trực thuộc sự quản lý của Thủ tướng, đến mức độ mà Thủ tướng là người phê duyệt cả những quyết định kinh doanh, nhân sự lẽ ra thuộc thẩm quyền của doanh nghiệp. Như vậy, quyền lực và sự tập trung quyền lực sẽ không bao giờ cần được coi là một nguyên nhân mà sự thiếu hụt chúng đã tạo ra một bức tranh thảm hại về DNNN như hiện nay.
 
Bất ổn thứ hai, cứ cho là một bộ máy có sự hiện diện của (Phó) Thủ tướng như vậy sẽ hoạt động hữu hiệu thì người ta cần phải nhớ rằng hiện nay đã có thêm một vài đề xuất tương tự, nào là thành lập Ủy ban Tái cơ cấu kinh tế, nào là Ủy ban Tái cơ cấu DNNN, và cứ như vậy thì thế nào nay mai cũng sẽ có thêm những Ủy ban đại loại như Ủy ban Xử lý nợ xấu ngân hàng, Ủy ban Cải cách ngân hàng, Ủy ban Tái cơ cấu nợ công, Ủy ban Phục hưng kinh tế... Và điều đáng nói là các loại ủy ban như vậy thế nào cũng phải có sự chủ trì của người đứng đầu Chính phủ. Giả thiết rằng, vì tầm quan trọng của những loại ủy ban này đúng như những người đề xuất biện hộ thì khi đó, xét về logic, dù có tài giỏi mấy thì phải là người 3 đầu 6 tay mới có thể kiêm nhiệm một loạt những chức vụ chủ tịch của những ủy ban như vậy. Bằng không, sự kiêm nhiệm đó chỉ là hình thức, rốt cuộc mọi việc vẫn đâu hoàn đó.
 
Bất ổn thứ ba, và quan trọng hơn, những người đề xuất trên dường như cũng quên rằng mấu chốt vấn đề không phải là tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước. Đối với DNNN, chừng nào còn có sự nhập nhằng giữa chức năng “ổn định kinh tế vĩ mô” với chức năng kinh doanh theo đuổi lợi nhuận đơn thuần như bất cứ một doanh nghiệp thông thường nào thì chừng đó chắc chắn hãy sẵn sàng để đón nhận kết quả hoạt động thảm hại của các DNNN như hiện nay.
 
Thay vì loay hoay với hà hơi tiếp sức cho các DNNN bằng những biện pháp tái cơ cấu nửa vời hoặc thành lập cơ quan này kia, hãy mạnh dạn tách bạch chức năng của từng DNNN, doanh nghiệp nào chuyên làm công ích, phi lợi nhuận thì hãy để chúng hoạt động đúng như vậy, còn doanh nghiệp nào đã kinh doanh vì lợi nhuận thì hãy để lợi nhuận là thước đo sự tồn tại cho doanh nghiệp đó, cho bộ máy quản lý của doanh nghiệp đó, cũng như cho những người đại diện cho vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp đó. Nếu không làm được triệt để như vậy thì cho dù với sự thành lập của Ủy ban nói trên, một khi kết quả thực tế không được như ý muốn, một lời xin lỗi suông và một quyết định “chấm dứt thí điểm” (chủ trương quản lý bằng các loại ủy ban) sẽ lại được đưa ra, và rồi mọi việc lại trở về như cũ.
 
Cuối cùng, cũng quan trọng không kém, chừng nào vẫn coi DNNN là chủ đạo trong những lĩnh vực then chốt trong hoạt động của DNNN thì chừng đó vẫn cần phải có những ưu đãi, những can thiệp từ Chính phủ để DNNN tồn tại và (hy vọng là) thực hiện được những chức năng đi ngược lại các quy luật kinh tế thị trường (nói một cách đơn giản là không có lợi nhuận thì không làm). Trong bối cảnh như vậy thì đừng nên đặt ra vấn đề DNNN kinh doanh phải có lãi! Tương tự như vậy, các loại ủy ban là điều không cần thiết!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).