Wednesday, 23 January 2013

"Thành công" đến từ sự kìm nén

Tớ đã dự cảm rằng thế nào lạm phát trong mấy tháng đầu của năm nay sẽ tăng vọt. Để chắc ăn hơn, tớ đã định viết mấy dòng chỉ để các đồng chí bạn đọc thấy rõ rằng xu thế lạm phát quay lại và tăng lên là không thể tránh khỏi và nhấn mạnh rằng thế nào cũng sẽ có một số nguyên nhân khách quan nào đó được đưa ra để biện minh, làm nhẹ cái chuyện này. Nhưng sau tớ lại không viết nữa vì chắc nhiều người trong số các đồng chí cũng nghĩ như vậy và sẽ không hề ngạc nhiên khi thấy như vậy (và thực ra thì tớ cũng đã cảnh báo chuyện lạm phát này nhiều lần rồi).

Hôm nay, đọc được cái tin về lạm phát đã tăng vọt lên 1,25% trong tháng 1 này. Tuy đã dự cảm trước nhưng tớ vẫn hơi bị sốc về cái mức độ của nó. Và cũng như tớ nói ở trên, lý do đưa ra thì lại rất đơn giản - vì giá thuốc và dịch vụ y tế, và ở một quãng xa sau đó là ngành ăn uống và giày dép. Cũng như thông thường, có một cái lỗi rất ngớ ngẩn (mà không biết có phải là lỗi thật hay người ta cố tình sai như vậy) là đổ lỗi cho lạm phát chung là do giá cả của một (số) nhóm hàng hóa dịch vụ nào đấy tăng lên, cứ như thể việc tăng giá của những hàng hóa và dịch vụ đó là khách quan, tự nhiên mà có, làm cho lạm phát tăng lên.

Đọc kỹ hơn một chút tin liên quan trên các báo thì thấy có chi tiết: "Đây (tức giá thuốc và dịch vụ y tế) cũng chính là nhóm gây ra tốc độ tăng đột biến ở tháng 9 năm ngoái. Sau khi được phép tăng kịch trần dịch vụ y tế, hàng loạt các tỉnh, thành phố đã đồng loạt tăng phí khiến chỉ số giá của nhóm khi đó tăng hơn 17%, riêng dịch vụ y tế tăng 23%. Ngay sau đó, Thủ tướng đã có chỉ đạo cần giãn thời gian tăng giá trong năm 2012. Tuy nhiên, bước sang năm 2013, Tổng Cục Thống kê cũng đã “cảnh báo” còn tới 30 địa phương chưa tăng giá thuốc và dịch vụ y tế. Vậy nên, tháng 1, nhóm này “tăng bù” là tất yếu."

Điều buồn cười chứa đựng trong những thông điệp kể trên là người ta cứ làm như cái bọn "địa phương" này thật cứng đầu cứng cổ, cố tình không nghe Thủ tướng chỉ đạo, cố tình tăng giá thuốc và dịch vụ y tế, từ đó mới làm tăng lạm phát, chứ không thèm tự đặt câu hỏi và tự trả lời, vậy ai/cái gì buộc các địa phương này buộc phải "không nghe" lời Thủ tướng và tăng giá?

Biết tự hỏi thì cũng sẽ biết tự trả lời được. Những chỉ đạo kiểu trên chỉ có thể dẫn đến một sự trì hoãn chứ không thể là giải pháp căn bản cho vấn đề. Giá cả mọi thứ đều tăng sẽ dẫn đến chi phí hoạt động tăng. Theo lẽ thông thường, giá bán sản phẩm và hàng hóa cũng phải được tăng lên ở mức độ nào đó để đảm bảo doanh nghiệp có lợi nhuận để tồn tại trong bối cảnh giá đầu vào tăng lên như thế này. Nếu mông muội buộc doanh nghiệp không được tăng giá bán thì cung sẽ co hẹp lại (làm làm gì để càng làm càng lỗ?). Vì không cho tăng giá thì chẳng có ai làm cả nên rốt cuộc thì cũng phải thả ra. Thả ra lúc nào thì giá sẽ tăng bù lại lúc đấy, đây là tất yếu chứ chẳng phải sự ngẫu nhiên hay bất thường gì cả.

Nếu đã hiểu thế rồi thì đừng có bao giờ mông muội đi kìm nén cái này cái kia. Chống lạm phát như thế thì dễ ợt, xin dành cho trẻ con làm trò tiêu khiển. Và cũng từ đây, cái gọi là "thành công" trong ổn định kinh tế vĩ mô năm 2012 như vẫn tự sướng với nhau (với lạm phát 7%) không thể là thành công được vì nó chỉ đạt được với cái giá phải trả cho những tháng năm sau đó. Hay nói cách khác là đã "tạm ứng" hết "room" trong chỉ tiêu lạm phát của năm nay cho năm vừa rồi rồi.

Nguy hiểm hơn, đây mới chỉ là đoạn dạo đầu. Áp lực lạm phát trong các tháng sau còn lớn hơn nhiều do cung tiền và tín dụng đã tăng mạnh trong 2 tháng cuối năm 2012. Cộng với giá của các hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên trong năm nay theo "lộ trình điều chỉnh" (1 phần cũng chỉ vì bị kìm nén những lần trước), hãy chuẩn bị mà đón nhận lạm phát ở mức sốc hơn nữa. Và nữa, trừ khi tiếp tục "tạm ứng" hết "room" trong chỉ tiêu lạm phát của năm 2014 theo cái võ "chỉ đạo" như trên thì lạm phát năm 2013 này mới dừng lại ở con số 7% như năm ngoái, chứ chưa dám nói là thấp hơn thế.

Hãy chuẩn bị tinh thần đừng bị sốc như tớ nhé, hỡi các đồng chí.

P/s: À quên không nói thêm rằng cái lý do mang tính thời vụ như kiểu này: "... giá thực phẩm đã tăng tới 1,96%. Đây là hiện tượng mang tính chu kỳ và mùa vụ, vào cuối năm, thời điểm giáp Tết nguyên đán, nhu cầu tăng cao nên giá cả các mặt hàng thực phẩm đã leo thang", hoặc đổ tại ngày (gần) Tết nên chi tiêu nhiều, như vẫn thường nghe thấy các đồng chí quan chức khua môi múa mép (và chắc chắn sẽ nghe thấy vào tháng 2 dịp Tết nguyên đán tới đây) là cái lý do rất vớ vấn và cũng mông muội không kém. Đã là chỉ số so sánh với cùng kỳ năm ngoái thì phải hiểu là sẽ không còn mang tính thời vụ nữa. 


Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).