Thursday, 14 March 2013

Có nên phá giá VND không? (Bài đăng trên TBKTSG)


Đây là bản gốc. Bản đăng trên TBKTSG số ra 14/3/2013 đã bị cắt bớt một vài đoạn.
http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/nganhang/93029/Co-nen-pha-gia-tien-dong-khong?.html
--------------------------------------------------
(TBKTSG) - LTS: Đã có nhiều ý kiến khác nhau về việc điều chỉnh hay giữ nguyên tỷ giá kèm theo là những phân tích tác động lên nền kinh tế. Số báo tuần này, TBKTSG giới thiệu một ý kiến nữa, với một số góc nhìn mới hơn để bạn đọc tham khảo.

Gần đây chuyện có nên phá giá VND lại có dịp làm nóng dư luận với bên phản đối phá giá nắm phần áp đảo tuyệt đối với rất nhiều lý lẽ nghe hết sức thuyết phục so với bên ủng hộ phá giá vốn đã ít lại chỉ đưa ra được một (số) ít lý lẽ chưa đủ sức nặng, chủ yếu là dựa trên chuyện xuất khẩu sẽ tăng lên. Trong bài viết này chúng ta sẽ vạch ra các sai lầm và/hoặc chưa hoàn toàn chính xác trong các lập luận của bên phản đối, đồng thời bổ sung thêm một số lý do làm tăng sức nặng cho bên ủng hộ.
Thứ nhất, bên phản đối cho rằng điều chỉnh tỷ giá (phá giá) sẽ làm gia tăng lạm phát và cản trở những nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô.

Có thể nói đây là một trong những lý do chính được bên phản đối đưa ra làm hậu thuẫn cho việc không nên phá giá. Theo cách hiểu trên thì tỷ giá gây ra lạm phát và vì thể để chống lạm phát cần phải ổn định tỷ giá. Nhưng trên thực tế, đa phần áp lực đẩy tỷ giá tăng (nội tệ mất giá) là xuất phát từ lạm phát. Và lạm phát thì lại thường là kết quả trực tiếp và chủ yếu của chính sách tiền tệ nới lỏng gây ra. Vì thế, có thể nói hành động ổn định tỷ giá để kiềm chế lạm phát như vậy về bản chất là vừa không trị đúng nguồn gốc căn bệnh lạm phát là do cung tiền tăng, lại vừa tốn kém một cách vô ích vì phải dùng quỹ dự trữ ngoại hối để can thiệp bình ổn tỷ giá mà rốt cuộc vẫn phải phá giá (như nói thêm dưới đây).
Thứ hai, bên phản đối lo ngại rằng nếu điều chỉnh VND 3%-4% hàng năm như theo đề xuất của một số người sẽ làm gia tăng kỳ vọng tỷ giá và phá vỡ những nỗ lực của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong việc bình ổn tỷ giá và tâm lý thị trường; niềm tin đối với giá trị VND dễ bị mài mòn.

Cần thấy rằng trên bề mặt thì lời tuyên bố giữ ổn định tỷ giá của NHNN có vẻ như sẽ tạo lập được niềm tin cho thị trường khi môi trường kinh doanh bớt đi một yếu tố bất trắc. Nhưng cái thiện ý này của NHNN lại khuyến khích các doanh nghiệp đi vay bằng ngoại tệ để sản xuất kinh doanh với lợi rõ ràng là lãi suất đi vay ngoại tệ thấp hơn hẳn rất nhiều so với VND, trong khi đáng chú ý là nhiều trong số họ có doanh thu bằng VND. Tình trạng bất đối xứng đồng tiền (currency mismatch) như vậy sẽ gây thêm áp lực rất lớn cho NHNN trong việc cố gắng thực hiện mục tiêu ổn định tỷ giá, đặc biệt khi thời hạn trả nợ các khoản vay ngoại tệ đến dồn dập vào thời điểm nào đó (cuối năm).
Ngoài ra, niềm tin đối với VND và tâm lý thị trường chỉ có thể ổn định một cách vững chắc khi có thêm những điều kiện kinh tế vĩ mô vững chắc, là những điều kiện làm hậu thuẫn cho tỷ giá VND ổn định. Những điều kiện đó bao gồm (nhưng không chỉ giới hạn ở) chính sách tiền tệ thận trọng (không bơm tiền quá liều), lạm phát (trước đó) không quá lớn, cán cân thương mại/vốn thăng bằng/thặng dư, dự trữ ngoại tệ đủ lớn, NHTW độc lập tương đối với Chính phủ và không bị áp lực phải in tiền tài trợ cho thâm hụt ngân sách, tỷ giá trước đó đã được biến động linh hoạt và NHTW không cam kết ổn định tỷ giá thái quá và bằng mọi giá, lưu chuyển vốn vào ra khỏi Việt Nam bị kiểm soát chặt chẽ, xuất khẩu không bị áp lực phải tăng trưởng mạnh (trong đó có nhờ đến phá giá) nhằm bù đắp cho nhu cầu thị trường nội địa suy giảm (như hiện nay) làm tăng trưởng kinh tế và việc làm bị tụt xuống dưới mức tiềm năng v.v.. Dễ thấy là nhiều trong số những điều kiện nền tảng này đã và đang không được đảm bảo ở Việt Nam. Một khi các điều kiện này đã bị vi phạm thì việc ổn định tỷ giá bất chấp các nền tảng yếu ớt sẽ chỉ mang tính nhất thời, ngắn hạn và sớm muộn NHNN cũng phải “buông” ra một cách mạnh mẽ, như hồi năm 2011.

Thị trường biết rõ điều này và chính vì thế nên mọi sự “kiên định” thái quá của NHNN trong việc níu kéo tỷ giá chỉ làm tăng thêm kỳ vọng phá giá và đầu cơ USD. Kỳ vọng này lại càng làm trầm trọng thêm áp lực phá giá VND, đẩy nhanh thời điểm phải phá giá đến sớm hơn. Và một khi đã xảy ra thì mức độ phá giá phải lớn hơn mức cần có để phục hồi lại các nền tảng ổn định tỷ giá trở lại.
Nói cách khác, ổn định tỷ giá bất chấp các nền tảng lung lay như hiện nay sẽ mang đến nhiều thiệt hại hơn để đổi lấy cái gọi là niềm tin, vốn mông lung, có điều kiện, và rất mong manh trong hoàn cảnh hiện tại.

Thứ ba: bên phản đối cho rằng việc điều chỉnh tỷ giá sẽ làm tăng mức độ nợ công của nền kinh tế.
Đây là một sai lầm rất phổ biến trong mọi giới ở Việt Nam. Như trong bài viết sau trên VEF,
http://vef.vn/2011-11-05-nen-doi-xu-nhu-the-nao-voi-ty-gia-usd-

tác giả đã chỉ ra rằng để ổn định tỷ giá nhằm tránh tăng gánh nặng trả nợ công của Việt Nam quy ra theo VND thì NHNN phải trả giá thay Chính phủ bằng việc sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối của mình. Tức là thiệt hại do tăng nợ công lẽ ra Chính phủ phải gánh thì nay gánh nặng này lại được đẩy sang NHNN, gánh nặng nợ chỉ đổi từ vai phải sang vai trái của quốc gia. Khi ổn định tỷ giá bằng quỹ dự trữ ngoại hối (tài sản công) thì chỉ có khu vực doanh nghiệp và cá nhân là được lợi hoàn toàn vì họ được “bù lỗ”, “trợ cấp” bằng tài sản công. Việc này càng khuyến khích doanh nghiệp và tư nhân vay nợ nước ngoài, như đã nói ở điểm thứ hai
Thứ tư: bên phản đối cho rằng phá giá không nhất thiết làm tăng xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại. Lý do họ đưa ra là do tỷ trọng nhập khẩu trong sản xuất trong nước và xuất khẩu quá lớn, bởi thế khi phá giá sẽ làm giá cả hàng nhập khẩu tăng và nhập siêu trầm trọng quay trở lại.

Bên phản đối đã bỏ qua/nhầm lẫn một tác dụng rất quan trọng của phá giá là kích thích tăng lượng xuất khẩu (vì làm giảm giá hàng xuất khẩu quy ra USD từ đó làm tăng tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường quốc tế), và đồng thời giảm lượng nhập khẩu (vì làm tăng tương đối giá hàng nhập khẩu quy ra VND so với hàng hóa tương ứng sản xuất trong nước). Doanh số tăng từ khối lượng xuất khẩu tăng thường sẽ lớn hơn phần doanh số sụt giảm do giá xuất khẩu của Việt Nam giảm một chút so với đối thủ khác.
Còn nhập khẩu, đồng ý rằng giá tính ra VND có tăng lên, nhưng giá nhập khẩu bằng USD thì không đổi trước và sau khi phá giá VND. Nhưng vì lượng nhập khẩu phải giảm đi, nên doanh số nhập khẩu tính bằng USD sẽ giảm đi. Kết hợp với doanh số xuất khẩu tăng lên, doanh số nhập khẩu giảm đi sẽ càng làm cho cán cân thương mại được cải thiện và thậm chí thặng dư, hậu thuẫn cho sự ổn định vững chắc của tỷ giá VND. 

Thứ năm: bên phản đối cho rằng nếu phá giá VND thì niềm tin và dòng vốn đầu tư nước ngoài có thể bị ảnh hưởng, bởi họ bị “móc túi” khi rót vốn vào Việt Nam (do tỷ giá tăng nên giảm lợi nhuận ra nước ngoài).
Niềm tin chỉ là một khái niệm tương đối. Nhà đầu tư còn mất niềm tin hơn nữa khi NHNN trước đó còn khăng khăng tuyên bố “kiên định” với ổn định tỷ giá thì đùng một cái sau vài ngày, vài tuần, vài tháng lại phải phá giá (mạnh) khi không thể đỡ được với áp lực thị trường. Ngược lại, niềm tin sẽ có nhiều hơn một cách tương đối nếu nhà đầu tư được nghe NHNN tuyên bố rằng tỷ giá sẽ linh hoạt biến động (không quá mạnh). Trên hết, ngày này hầu như chẳng có mấy nước có chính sách tiền tệ độc lập lại cố định tỷ giá nội tệ với USD cả và chuyện phá giá thì ngay cả những nền kinh tế phát triển các NHTW vẫn thỉnh thoảng can thiệp phá giá nội tệ (một cách bất ngờ). Nếu lập luận như trên thì hóa ra các nhà đầu tư nước ngoài xa lánh hầu hết các thị trường đầu tư trên thế giới ư?

Còn chuyện nhà đầu tư bị “móc túi” khi VND bị phá giá. Có thể vậy, đặc biệt với những nhà đầu tư ngắn hạn vào các sản phẩm tài chính, tìm cách ăn chênh lệch lãi suất. Nhưng loại nhà đầu tư này và dòng vốn mà họ mang vào (FII) thực ra là điều không nên/không được khuyến khích ở nhiều nơi trên thế giới. Chuyện VND thỉnh thoảng bị phá giá đột ngột lại làm họ nản chí, chỉ còn lại những người muốn đầu tư dài hạn (FDI). Theo đúng quy luật thị trường công bằng, muốn đánh nhanh thắng nhanh thì phải chịu rủi ro đến nhanh và nhiều.
Xét thêm về dòng vốn FDI, có hai loại FDI chính có thể được lợi, bị hại rõ ràng khi VND thỉnh thoảng bị phá giá (lưu ý rằng vì là FDI nên ở đây ta chỉ xét đến việc xảy ra trong ít nhất là trung hạn, chứ không chỉ là vài tháng, 1 năm như với FII). Với dòng FDI vào sản xuất để thay thế cho hàng nhập khẩu (tức là hướng vào thị trường trong nước), do nguồn thu của nhà đầu tư này chủ yếu là VND thì đương nhiên là sẽ bị thiệt khi chuyển doanh thu VND ra USD để thanh toán đơn nhập khẩu và chuyển lợi nhuận về quê nhà. Nhưng đây chỉ là hậu quả tức thời diễn ra trong và sau một thời gian ngắn sau khi phá giá VND. Còn về dài hạn hơn, phá giá VND làm nhập khẩu giảm sút vì bớt tính cạnh tranh với hàng sản xuất trong nước, nên các chủ đầu tư FDI hướng nội này được hưởng lợi nhờ thị trường mở rộng, đồng nghĩa với lợi nhuận VND thu được tăng lên, và như thế có nghĩa là lợi nhuận quy ra USD không nhất thiết giảm đi, mặc dù tỷ giá đã tăng.

Ngược lại, đối với FDI hướng xuất khẩu thì có thể thấy cái lợi rõ hơn chủ yếu nhờ tăng được lượng xuất khẩu do có giá bán tính theo USD cạnh tranh hơn, từ đó có thể đảm bảo lợi nhuận chuyển về nước không bị ảnh hưởng do phá giá. Không phải ngẫu nhiên nhà đầu tư FDI hướng xuất khẩu thường chọn những nước có chi phí và giá thành sản xuất hạ để đầu tư, trong đó việc phá giá của nước sở tại để hạ chi phí sản xuất tính theo USD là một biện pháp thực tiễn.
Thứ sáu: bên phản đối cho rằng khi phá giá VND, tác động ngược là nhập khẩu lạm phát. Nguy cơ lạm phát cao trở lại sẽ có thêm “cú hích”. Để chống lạm phát cao, một giải pháp kinh điển và quen thuộc tại Việt Nam những năm qua là tăng lãi suất, làm tổn hại đến quá trình phục hồi kinh tế.

Với lập luận trên, lật ngược lại, nếu cương quyết không phá giá thì, ngoài biện pháp hành chính vốn không mấy hữu hiệu, NHNN thường phải tăng cầu VND tương đối so với USD, thông qua hoặc bơm thêm USD ra, hoặc ngừng mua vào USD, hoặc rút bớt VND về. Vì cầu VND tăng tương đối nên lãi suất VND sẽ có xu hướng tăng lên nhưng chính trong quá trình NHNN “kiên định” không phá giá VND, chứ không phải là khi chủ động phá giá VND. Nói cách khác, việc lãi suất VND tăng là việc có khả năng xảy ra ngay khi NHNN cố tình không phá giá VND.

Ngược lại, khi NHNN chủ động phá giá VND thì NHNN sẽ tăng cung VND tương đối so với USD. Tăng cung VND sẽ dẫn đến hậu quả là lãi suất sẽ (có xu hướng) giảm, chứ không phải là lãi suất tăng như bên phản đối lo ngại. Tất nhiên, sau tăng cung VND thì áp lực lạm phát sẽ tăng lên, nhưng đây là quá trình xảy ra sau đó, với một độ trễ nào đó (mà người ta cho là 3 tháng, 6 tháng gì đó), chứ không phải là xảy ra ngay. Và khi lạm phát đã tăng lên thì cũng cần phải có một độ trễ nữa thì mới dẫn đến lãi suất được điều chỉnh tăng lên. Nói cách khác, nền kinh tế vẫn được hưởng lợi ngay từ việc lập lại cán cân thương mại và lãi suất hạ đi trước khi nó (lãi suất) có dịp tăng lại (và cũng cần thêm một thời gian nữa, nếu có tăng) thông qua áp lực tăng lạm phát.
Thứ bảy (có liên quan đến phá giá VND): Nhiều chuyên gia cho rằng lãi suất ở Việt Nam cao (gần) nhất thế giới thì hàng hóa sản suất ở Việt Nam không thể cạnh tranh được với các nước khác (vì đầu vào là lãi suất làm tăng chi phí sản suất ở Việt Nam).

Cần xem lại lập luận này. Lãi suất cao thường xảy ra trong tình trạng có lạm phát cao. Trong hoàn cảnh này, tỷ giá luôn có xu hướng bị điều chỉnh tăng lên (VND bị phá giá, nếu tỷ giá đã bị kìm trong một thời gian nào đó). Khi tỷ giá đã tăng thì tức là giá hàng sản xuất tại Việt Nam bằng VND tuy có thể tăng (do lãi suất tăng) nhưng tính theo USD không nhất thiết sẽ tăng theo, tùy thuộc vào mức độ phá giá VND. Mà như thế cũng tức là hàng hóa sản xuất tại Việt Nam vẫn có cơ hội cạnh tranh được với hàng hóa sản xuất tại nước ngoài, nếu không mù quáng kìm hãm tỷ giá. Ngược lại, nếu mù quáng kìm hãm tỷ giá (danh nghĩa) thì đương nhiên là hàng hóa Việt Nam mất tính cạnh tranh vì giá thành của chúng tính bằng USD đã tăng do giá thành tính bằng VND cũng tăng sau khi tăng lãi suất đi vay bằng VND, còn tỷ giá thì không đổi.
Kết luận lại, có nhiều lý do hợp lý hơn để NHNN phải xem xét đến việc tiến hành phá giá VND hơn là “kiên định” với ổn định tỷ giá trong hoàn cảnh hiện nay. Trên hết, không phải ngẫu nhiên nhiên mà chính phủ các nước trên thế giới đều tìm cách hạ giá nội tệ để kích thích tăng trưởng kinh tế và việc làm, như đang chứng kiến hiện nay. Nếu có/biết phải phá giá thì cần tránh mọi tuyên bố như kiểu hoặc kiên quyết ổn định tỷ giá, hoặc sẽ phá giá (hay điều chỉnh) trong khoảng, ví dụ, 3%-4%/năm. Một lập trường tỷ giá bất định đối với thị trường, như cung cách thường làm ở các NHTW trên thế giới là điều khôn ngoan hơn, xét trên mọi lẽ.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).