Friday, 29 March 2013

Tiếp tục trao đổi chuyện có nên phá giá tiền đồng (Bài đăng trên TBKTSG online)

http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/93790/Tiep-tuc-trao-doi-chuyen-co-nen-pha-gia-tien-dong.html

(TBKTSG Online) - Trên TBKTSG số ra ngày 21-3 có bài viết “Chưa phải lúc phá giá tiền đồng” của tác giả Tấn Đức phản biện lại bài viết “Có nên phá giá tiền đồng không?” của tôi đăng trên TBKTSG số ra ngày 14-3-2013. Nhận thấy bài viết của tác giả có một số luận điểm chưa ổn nên tôi muốn mang ra mổ xẻ trong bài này để tiện cho độc giả hiểu rõ thêm vấn đề.

1. Tác giả viết: “Quan điểm chính của bên ủng hộ (chuyện phá giá) cho rằng, tiền đồng đã mất giá nhiều do lạm phát trong những năm qua nên cần phá giá để kích thích xuất khẩu...”

“Tiền đồng đã mất giá nhiều” thì sao lại phải tiếp tục phá giá? Chưa kể, tác giả trích dẫn sai ý kiến của bên ủng hộ. Bên ủng hộ, ít nhất là tôi, không nói rằng “tiền đồng đã mất giá nhiều do lạm phát”, vì như thế là sai về thuật ngữ. Cần nói chính xác rằng “tiền đồng đã lên giá thực (nhiều) so với đô la Mỹ do lạm phát ở Việt Nam cao hơn lạm phát ở Mỹ”.

2. Tác giả viết: “(Bên ủng hộ cho rằng) lạm phát đang ở mức thấp, cán cân thương mại hiện nay đang có thặng dư. Đó là cơ hội tốt để phá giá tiền đồng”.

Bên ủng hộ ít nhất là có tôi không nói rằng cán cân thương mại đang thặng dư là cơ hội tốt để phá giá (bản thân tôi cũng không nói rằng lạm phát thấp là cơ hội tốt để phá giá). Ngược lại, (theo lý thuyết và thực tế) phá giá là để cải thiện cán cân thương mại, làm cho nó từ thâm hụt sang thặng dư. Phát biểu trên chỉ là ý kiến chủ quan của tác giả áp đặt vào cho bên ủng hộ, chứ không phải là ý kiến của những người ủng hộ phá giá như tôi.

Như vậy, lập luận sau đó của tác giả về chuyện tính bền vững của xuất siêu là lạc đề, vì xuất siêu không phải là cái cớ để những người như tôi kêu gọi phá giá. Ngược lại, tôi cũng đồng ý với tác giả rằng xuất siêu của Việt Nam như hiện nay là không bền vững. Nói cách khác, rất có khả năng xuất siêu như hiện tại sẽ nhanh chóng chuyển sang nhập siêu, như đang cho thấy từ con số thống kê xuất nhập khẩu trong tháng 3 này. Cộng thêm với quá khứ nhập siêu kinh niên trong nhiều năm, nhiều tháng qua, việc kêu gọi phá giá của bên ủng hộ để cải thiện cán cân thương mại là hoàn toàn hợp lý, hợp logic.

Nếu muốn phản biện, xin tác giả hãy chứng minh rằng phá giá không giúp cải thiện cán cân thương mại (tức không giúp đạt được xuất siêu), là điều mà bên ủng hộ như tôi đã chỉ ra. Cũng vì đặt vấn đề sai (biến ý kiến của tác giả thành ý kiến của đối phương) nên lập luận của tác giả để chứng minh rằng xuất siêu hiện nay là không bền vững là lạc đề, mặc dù, xin nói lại, tôi cũng ủng hộ lập luận này (xuất siêu hiện nay là không bền vững) của tác giả, đơn giản vì tiền đồng vẫn lên giá thực quá nhiều so với đô la Mỹ nên trước sau nhập siêu cũng sẽ quay trở lại và Việt Nam sẽ phải phá giá (hay nói theo ngôn ngữ thường dùng của NHNN là “điều chỉnh” tỷ giá).

3. Tác giả viết: “NHNN có đang chịu áp lực phải bơm ngoại tệ ra để ổn định tỷ giá không? Câu trả lời là không”.

Ít nhất là có tôi bên ủng hộ không nói rằng hiện nay NHNN đang chịu áp lực bơm ngoại tệ để ổn định tỷ giá, mặc dù trên thực tế nhiều khi một trong những động cơ để phá giá là việc ngân hàng trung ương bất lực trong việc can thiệp vào thị trường ngoại hối để ổn định tỷ giá, như ở Việt Nam thời gian qua và các nước khác (Đông Nam Á trong cuộc khủng hoảng tài chính khu vực). Nhưng cũng như tác giả đã nhận định, tình trạng NHNN phải mua vào đô la Mỹ như vừa qua có thể không kéo dài khi nhu cầu đô la Mỹ tăng lên. Như vậy, đến lúc NHNN phải chuyển sang trạng thái ngược lại là bán đô la Mỹ ra để giảm áp lực phá giá tiền đồng thì lời kêu gọi phá giá của chúng tôi là hợp lý phải không, thưa tác giả?

Nói cách khác, nếu muốn phản đối ý kiến của chúng tôi, tác giả cần phải làm ngược lại, là chứng minh rằng phá giá tiền đồng không giúp làm giảm áp lực bơm ngoại tệ của NHNN ra thị trường để ổn định tỷ giá, chứ không phải là đi chứng minh rằng hiện nay NHNN đang phải mua vào đô la Mỹ nên không cần phá giá như tác giả đã làm trong bài viết của mình (tức là tác giả tiếp tục lạc đề).

4. Tác giả dùng số liệu xuất nhập khẩu để chứng minh rằng khi phá giá thì sẽ làm giá cả hàng hóa nhập khẩu tăng lên, nhất là xăng dầu, điện... làm tăng nguy cơ đẩy lạm phát lên. Đương nhiên lập luận này của tác giả là đúng, và không ai, ít nhất là tôi, phủ nhận rằng khi phá giá sẽ làm tăng áp lực lạm phát (thực ra tác giả không cần thiết phải mất công tìm và nêu ra chi tiết số liệu xuất nhập khẩu để chứng minh điều này, vì đó là điều hiển nhiên). Nhưng như tôi đã nói trong bài viết trước, áp lực phải phá giá thường đến từ lạm phát tăng, mà đến lượt nó lại do chính sách tiền tệ nới lỏng.

Một trong những lý do mà chúng tôi ủng hộ chuyện phá giá là, như đã nói ở trên, tiền đồng đã lên giá thực so với đô la Mỹ là hậu quả (phần lớn) của chính sách tiền tệ nới lỏng gây lạm phát cao ở Việt Nam trong suốt mấy năm qua so với lạm phát ở Mỹ. Vì vậy, việc phá giá tiền đồng, nếu có, chỉ là hậu quả (bắt buộc phải làm, phải gánh chịu), chứ không phải là nguyên nhân (gây ra lạm phát). Quan trọng hơn, nếu muốn giảm áp lực lạm phát ở Việt Nam từ việc “nhập khẩu lạm phát” qua kênh nhập khẩu thì NHNN hoàn toàn có thể dùng chính sách tiền tệ thắt chặt hơn để trung hòa áp lực gia tăng lạm hát đến từ phá giá. Như vậy cũng có nghĩa là phá giá không nhất thiết làm tăng nguy cơ lạm phát, như tác giả và những người phản đối đã và đang lập luận!

Hơn nữa, tác giả sai lầm khi cho rằng vì doanh nghiệp xuất khẩu có độ phụ thuộc lớn vào nguyên vật liệu nhập khẩu nên khi phá giá, lợi nhuận chẳng còn bao nhiêu. Hãy xem ví dụ sau. Giả sử giá xuất khẩu mặt hàng nào đó của Việt Nam là 100 đô la Mỹ/cái, nguyên vật liệu nhập về để sản xuất hàng đó là 90 đô la Mỹ/cái. Giả sử tiếp đồng Việt Nam bị phá giá từ 20.000 đồng/đô la Mỹ lên thành 21.000 đồng/đô la Mỹ, đồng thời giả sử rằng giá bán của hàng đó và giá nguyên vật liệu sản xuất hàng đó trên thị trường quốc tế (thị trường xuất khẩu) là không đổi, vẫn tương ứng là 100 đô la Mỹ và 90 đô la Mỹ, sau khi phá giá đồng Việt Nam. Lúc này, doanh nghiệp xuất khẩu và thu về được 100 x 21.000 = 2,1 triệu đồng; tức là 100.000 đồng lớn hơn so với trước khi phá giá. Mặt khác, chi phí nguyên vật liệu sau khi phá giá tăng lên 90 x (21.000 – 20.000) = 90.000 đồng. So với mức chênh 100.000 đồng doanh thu nhờ tăng tỷ giá, mức tăng chi phí nguyên vật liệu này vẫn nhỏ hơn. Suy ra là phá giá thì doanh nghiệp xuất khẩu vẫn có lợi hơn.

Tác giả cho rằng chi phí trong nước cũng tăng lên nên rốt cuộc “kết quả còn lại sẽ chẳng còn được bao nhiêu”. Rất tiếc, chi phí trong nước nếu có tăng lên do phá giá (lưu ý là không nhất thiết xảy ra, như nói ở trên khi NHNN thắt chặt hơn chính sách tiền tệ) thì chỉ đến một thời gian sau khi phá giá, chứ không thể song hành với hành động phá giá của NHNN, nên tại thời điểm phá giá thì nhà xuất khẩu và chuỗi cung ứng có liên quan vẫn được hưởng lợi.

Và một điều đặc biệt quan trọng nữa, như tôi đã đề cập đến trong bài trước, mà tác giả và nhiều người phản đối vẫn bỏ qua đó là chuyện doanh nghiệp xuất khẩu thay thế (một phần) đầu vào nhập khẩu bằng hàng sản xuất trong nước để giảm chi phí khi phá giá làm cho giá của đầu vào nhập khẩu tính theo đồng Việt Nam tăng lên, trở nên kém cạnh tranh hơn so với cũng hàng đó nhưng sản xuất trong nước. Một ví dụ có thể thấy là sản xuất và xuất khẩu hàng điện tử. Thay vì như trước đây doanh nghiệp xuất khẩu phải nhập khẩu một chi tiết nào đó, chẳng hạn, con vít (giá 1 đô la Mỹ, tương đương với 20.000 đồng, so với con vít cùng loại và chất lượng tương đương sản xuất tại Việt Nam với giá đắt hơn một chút, ví dụ 20.500 đồng), thì nay doanh nghiệp xuất khẩu có thể mua cũng con vít đó sản xuất trong nước với giá rẻ hơn sau khi tiền đồng bị phá giá ví dụ, từ 20.000 đồng/đô la Mỹ lên thành 21.000. Như thế có nghĩa là khi phá giá thì rất có thể hàm lượng hàng nhập khẩu trong hàng xuất khẩu giảm đi, trung hòa được áp lực “nhập khẩu lạm phát” do tăng tỷ giá, nếu có.

Suy rộng ra cho cả nền kinh tế, khi hàng hóa sản xuất trong nước trở nên cạnh tranh hơn sau khi phá giá thì hàng nhập khẩu sẽ “lép vế” hơn, đồng nghĩa với tổng doanh số nhập khẩu vào Việt Nam (tính bằng đô la Mỹ) ít đi và áp lực “nhập khẩu lạm phát” vì thế mà giảm đi. Nói cách khác, cứ cho là áp lực lạm phát sẽ gia tăng từ những mặt hàng nhập khẩu chiến lược như xăng dầu nhưng vì những mặt hàng nhập khẩu khác sẽ ít đi nên rốt cuộc sẽ trung hòa được áp lực đến từ xăng dầu.

Đến đây có thể kết luận lại rằng lập luận của tác giả rằng chỉ có ngành xuất khẩu tài nguyên là được hưởng lợi từ phá giá là không đúng.

5. Tác giả phủ nhận rằng “phá giá tiền đồng để tăng sức cạnh tranh thị trường trong nước cho doanh nghiệp nội địa”. Tác giả lập luận rằng “hầu hết sản phẩm tiêu dùng Việt Nam nhập khẩu là từ Trung Quốc”, mà Việt Nam không thể cạnh tranh được với họ về giá nên dù giá hàng Trung Quốc nhập về Việt Nam có đắt lên 9-10% thì cũng “chưa biết sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước có cải thiện được hay không, nhưng chắc chắn rằng số nợ họ đã vay để mua máy móc thiết bị thì tăng ngay lập tức”.

Thứ nhất, cần phải khẳng định ở đây, hoàn toàn theo logic, khi hàng nhập khẩu, dù là từ Trung Quốc, đã tăng giá lên (so với trước khi phá giá tiền đồng) thì xét về mặt tương đối, sức cạnh tranh của chúng phải giảm đi so với hàng trong nước, nếu mọi yếu tố khác không thay đổi. Tức là sức cạnh tranh của hàng trong nước sẽ được cải thiện, và vì thế tác giả không thể nói chung chung là “chưa biết sức cạnh tranh có cải thiện được hay không”.

Thứ hai, về chuyện doanh nghiệp vay nợ để mua máy móc nên khi phá giá thì số nợ sẽ tăng lên. Chuyện này lại quay trở về lập luận của tôi ở trong bài trước là NHNN sẽ phải “bù lỗ”, “trợ giá” cho doanh nghiệp, cho tư nhân bằng quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia nhằm ổn định tỷ giá, không tăng gánh nặng nợ cho những đối tượng này. Nếu tác giả đồng ý rằng NHNN không nên mang của công ra làm lợi cho một số đối tượng nhất định thì tác giả đã tự phủ nhận ý kiến của mình.

Thứ ba, như đã nói ở trên, khi phá giá, doanh nghiệp sẽ bớt đi động cơ dùng máy móc nhập khẩu, thay bằng máy móc trong nước. Đành rằng không phải máy móc nào cũng mua được trong nước, nhưng cho dù chỉ có một phần có thể thay thế được thì cũng có nghĩa là cả nền kinh tế được hưởng lợi hơn (một cách tương đối) vì bán được nhiều hàng nội địa hơn, bớt nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu, giảm nhập siêu (nếu có), từ đó giảm áp lực lên tỷ giá.

6. Tác giả phủ nhận khi (NHNN khẳng định) không phá giá thì doanh nghiệp sẽ quay sang vay mượn bằng ngoại tệ nhiều hơn, làm tăng sức ép buộc NHNN phải bơm ngoại tệ để ổn định tỷ giá.

Thực ra tác giả diễn giải sai ý của (chúng) tôi. (Chúng) tôi cho rằng sự khẳng định của NHNN rằng tỷ giá ổn định sẽ khuyến khích doanh nghiệp đi vay bằng ngoại tệ (từ nước ngoài) với lãi suất thấp hơn, tạo ra rủi ro liên quan đến sự bất cân xứng đồng tiền (currency mismatch), khi mà nhiều doanh nghiệp này có nguồn thu chủ yếu bằng tiền đồng. Điều này sẽ làm trầm trọng tình trạng đô la hóa, là điều hẳn nhiên không nói thì tác giả cũng đồng ý là điều tuyệt đối cần tránh. Chưa kể, nhu cầu mua ngoại tệ để trả nợ vay nước ngoài/trong nước thường có tính chu kỳ hoặc dồn vào một vài thời điểm nào đó trong năm, hoặc những lúc có biến cố xảy ra làm tăng tâm lý mua vét ngoại tệ để phòng ngừa và chờ đến lúc phải trả nợ v.v... tất cả đều làm tăng gánh nặng can thiệp bán ra ngoại tệ của NHNN nhằm thỏa mãn nhu cầu dồn dập của thị trường trong những thời điểm như thế. Nếu không may mà năng lực can thiệp ổn định thị trường của NHNN không đủ mạnh thì sẽ xảy ra những bất ổn khó lường từ chuyện này. Tác giả cần chứng mình rằng những luận điểm này của (chúng) tôi là sai, chứ không phải như đã làm ở trong bài của mình.

7. Cuối cùng, tác giả đề cập chuyện phá giá sẽ làm suy giảm lòng tin của dân và tình hình có thể thoát khỏi vòng kiểm soát.

Như tác giả cũng đồng ý rằng niềm tin vốn rất mong manh. Vì vậy, nếu làm ngược lại, cam kết kiên quyết không phá giá nhưng do thực tế đòi hỏi phải phá giá và đến một lúc nào đó không cưỡng lại được với sức ép của thị trường, NHNN buộc phải phá giá, lúc đó niềm tin còn suy giảm hơn nhiều, và đúng là hoàn toàn có thể gây ra hoảng loạn khi tình hình không kiểm soát được, như đã từng thấy ở trên thế giới. Nói cách khác, chừng nào mà NHNN cam kết và trên thực tế sẽ không phá giá với bất cứ lý do gì, trong hoàn cảnh nào thì chừng đó niềm tin sẽ còn, và sẽ được củng cố. Nhưng câu hỏi là liệu NHNN có làm được như nói được không? Nếu tác giả không tin tưởng lắm vào khả năng này thì tốt nhất là, làm như tôi khuyến cáo trong bài trước, đừng khẳng định cái gì, và hãy để chính sách tỷ giá của mình bất định với thị trường.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).