Monday, 11 March 2013

Trả lời thư bạn đọc về chuyện tỷ giá


Hôm nay có đồng chí email hỏi tớ vấn đề về phá giá như sau. Thấy câu hỏi thiết thực nên tớ post lên đây kèm câu trả lời. Nói thêm là tớ đọc được bài của đồng chí Minh này nhưng rồi quên biến mất, không lôi đồng chí Minh ra để phang trong các entry trước (thật sự là không thấy đáng đọc). Nhưng đồng chí Minh này không thoát được tớ hôm nay!

----------------------------------------------------------------

Gần đây trên báo chí cũng như trên 1 số blog có nhiều bài viết nói về vấn đề tỷ giá, lạm phát, nên hay không nên phá giá VND. Em cũng đã đọc những bài viết của anh trên blog về vấn đề này. Hôm nay đọc thấy bài này của anh Đinh Tuấn Minh, em thấy anh Minh có những quan điểm khác như sau:

http://thitruongtudo.blogspot.com.au/2013/03/chinh-sach-ty-gia-can-tha-noi-co-kiem.html

(1) Trích:

"...Tôi cho rằng việc phá giá VND lúc này là thiếu có cơ sở và trái ngược với mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế trong thời điểm hiện tại. Điều mà Ngân hàng nhà nước cần làm (NHNN) là điều hành một chính sách tỷ giá thả nổi có kiểm soát, tức để tỷ giá biến động hàng ngày linh hoạt hơn theo cung và cầu thực về ngoại tệ trên thị trường, chứ không phải là một chính sách khá cứng nhắc như hiện nay..."

Anh Minh cho rằng:


(2) Trích:

"...Đồng nội tệ có xu hướng mạnh lên trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế..."

Lí do bởi vì:

(3) Trích:

"... nguồn vốn khả dĩ duy nhất để đảm bảo cho sự thành công của quá trình tái cơ cấu kinh tế tại Việt Nam lúc này là dòng vốn đầu tư nước ngoài...Nếu thu hút được đầu tư nước ngoài vào quá trình mua bán nợ xấu, vào việc mua bất động sản và vào việc mua cổ phần tại các doanh nghiệp nhà nước thì tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế sẽ được đảm bảo.....Nhưng việc thu hút một lượng lớn đầu tư nước ngoài đòi hỏi phải có một kỳ vọng vững chắc về sự ổn định của đồng nội tệ của Việt Nam, thậm chí là sự tăng giá của VND. Việc đồng nội tệ không bị mất giá sẽ là một đảm bảo chắc chắn về việc không bị thiệt hại khi nhà đầu tư nước ngoài muốn chuyển tiền về nước.."

Em muốn hỏi anh Ngọc 1 chút có gì khác nhau trong quan điểm của 2 anh về vấn đề này không ?

1 vấn đề nữa em thắc mắc, đó là bảng cân đối kế toán của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, em thấy Ngân hàng nhà nước Việt Nam hình như không công bố những tài liệu này public thì phải?

--------------------------------------------------------------

Trả lời của tớ.

(1)          Đồng chí này nói mà như không nói. Nói “thả nổi có kiểm soát”, và tự giải thích là “để tỷ giá biến động hàng ngày linh hoạt” thì phải chăng là công nhận để cho VND mất giá (khi VND bị áp lực phá giá), cho dù là trong một phạm vi nào đó, không lớn quá? Cho dù là để VND mất giá 1%, 2% hay 5%, 10% thì bản chất là như nhau, tức là một hành động phá giá VND. Mà như vậy thì nói “việc phá giá VND lúc này là thiếu cơ sở và trái ngược với mục tiêu cơ cấu nền kinh tế” là tự mâu thuẫn. Trừ khi đồng chí ý muốn nói “hàng ngày linh hoạt” có nghĩa là chỉ được phép dao động quanh tỷ giá chính thức ở biên độ 0.00...x%/ngày và 0.00...y%/tuần/tháng (tiệm cận 0) thì còn chấp nhận được!

Hơn nữa, nói phá giá lúc này là “thiếu cơ sở” thì đồng chí phải vạch ra nhiều cái hại, so sánh với nhiều cái lợi của việc phá giá để thấy rốt cuộc thì nên phá giá hay không. Hình như trong cả bài của đồng chí này không đề cập (mấy) đến lợi ích của việc phá giá, mà chỉ cố gắng chứng minh rằng phá giá là có hại nếu xét từ góc độ (rất hẹp) rằng thu hút vốn nước ngoài vào mua tài sản, nợ xấu, cổ phần, bất động sản v.v... Như vậy, đồng chí này đã sai ngay từ mặt phương pháp luận, chưa kể sai/không hoàn toàn đúng về chuyện ổn định tỷ giá để thu hút vốn nước ngoài.

Hơn nữa, như tớ đã viết trong các entry trước, phá giá không làm hại tất cả các loại hình vốn nước ngoài. Ngược lại, phá giá có tác dụng “xua đuổi” luồng “tiền nóng” là thứ cần tránh thay vì welcome chúng. Nói thêm ở đây, cứ cho rằng các loại vốn nước ngoài mà đồng chí đề cập đến đều là vốn “quý”, cần khuyến khích (mặc dù hẳn nhiên không phải là vậy), thì việc không phá giá VND bây giờ để hấp thụ vốn nước ngoài (giả sử nhà đầu tư thích VND ổn định, chứ không phải bị định giá thấp, là cái như tớ đã nói là không hoàn toàn đúng, ít nhất đối với FDI hướng xuất khẩu) sẽ chỉ có ý nghĩa/đúng khi Việt Nam (cam kết) sẽ không bao giờ phá giá. Nhưng đồng chí Minh có bảo đảm rằng sau đây nửa năm, 1 năm hoặc hơn, Việt Nam vẫn sẽ không phá giá không? Nếu có phá giá (tớ cho là chắc chắn. Lưu ý rằng gọi là phá giá nhưng thực ra chỉ đơn giản là tỷ giá VND tăng lên so với hiện nay), liệu có thể coi hành động (cam kết) không phá giá hiện nay là lừa đảo nhà đầu tư không? Ngược lại, đối với một nước như Việt Nam, liệu có mấy nhà đầu tư có ý định đầu tư vào Việt Nam lại tin rằng, kỳ vọng rằng tỷ giá VND sẽ ổn định để làm cơ sở cho quyết định đầu tư?

(2)   Tớ chịu chẳng thể nào lý giải tại sao tái cơ cấu kinh tế thì đồng nội tệ lại có xu hướng tăng giá như đồng chí Minh nói được. Hiểu đơn giản thì tái cơ cấu thường gắn liền với xáo trộn, với rủi ro, với bất ổn, với thay đổi có thể theo hướng tốt lên hoặc xấu đi v.v... Mặc dù đồng chí có nêu ra yếu tố lạm phát nhưng cũng hoàn toàn có khả năng rằng tái cơ cấu kinh tế dẫn đến lạm phát tăng/thoát khỏi kiểm soát. Mà như thế, và đi kèm với các rủi ro khác, hoàn toàn có khả năng nội tệ bị mất giá, chứ không phải là lên giá.

Đồng chí Minh nói rằng tỷ giá hiện nay đã ở trạng thái cân bằng để khởi đầu cho tái cơ cấu kinh tế. Nhưng đồng chí đã phân tích các yếu tố cơ bản làm nền tảng cho tỷ giá ổn định chưa? Tỷ giá thực VND đã/sẽ như thế nào? Thâm hụt thương mại cả năm nay đã/sẽ thế nào? Lạm phát đã/sẽ thế nào v.v...? Chưa phân tích thì sao mà nói chắc như đinh đóng cột rằng tỷ giá đã ở thế vững (sẽ duy trì được) và phá giá là thiếu cơ sở được?
Quan trọng hơn, đồng chí giả định rằng năm nay với chính sách kiềm chế lạm phát, với dòng vốn nước ngoài đổ vào, và với tái cơ cấu kinh tế thì VND sẽ lên giá (nên không cần phải phá giá). Tất nhiên, nếu xảy ra như vậy thì có khả năng VND sẽ lên giá. NHƯNG đây chỉ là những giả định/kỳ vọng mà không nhất thiết những điều này sẽ xảy ra, đồng nghĩa là tương lai của ổn định tỷ giá VND là hoàn toàn không có gì đảm bảo. Hơn nữa, cho dù có xảy ra như vậy, nhưng đó là việc trong tương lai (khó/không thể diễn ra trong vòng vài tháng tới), cho nên về logic không thể suy ra rằng cho đến thời điểm này không có áp lực phá giá và không cần phá giá.

(3)   Như phân tích ở trên và trong các entry trước, quan điểm của tớ đương nhiên là ngược lại với của đồng chí Minh (tớ ủng hộ chuyện phá giá, hay nói văn hoa, “an toàn” hơn là “điều chỉnh” tỷ giá) và quan điểm của tớ dựa trên phân tích lợi hại xung quanh ổn định tỷ giá/không phá giá, trong khi các ý kiến phản đối thì hoặc là dựa trên các lý luận hời hợt, sai lầm, phiến diện, hoặc là chỉ đề cập đến một số khía cạnh hạn hẹp của vấn đề, như của đồng chí Minh này. Nếu các đồng chí bạn đọc mà chỉ ra được tớ sai cái nào, (phá giá) hại nhiều hơn lợi thì mới có thể nói rằng không nên phá giá.

Nói thêm, tuần này tớ có 1 bài trên TBKTSG về chuyện có nên hay không phá giá, tập hợp tất cả các lập luận trong các entry liên quan cho đến nay. Các đồng chí đón xem cho rõ thêm nhé.

Về chuyện bảng cân đối tài sản của NHNN, tớ nghĩ là không công bố. Nhiều thứ bình thường hơn còn không công bố, huống chi thứ “nhạy cảm” như vậy?

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).