Thursday, 11 July 2013

Xem họ nói gì về tỷ giá

Tớ lướt báo, thấy có 2 khuôn mặt, 2 ý kiến rất xứng đáng được lôi ra đây để bình luận. Gương mặt đầu tiên là đồng chí Lê Minh Hưng, Phó Thống đốc NHNN. Bổn cũ soạn lại, sau khi liệt kê nào là cán cân thanh toán thặng dư mấy tỉ đôla, nào là trạng thái ngoại tệ tại các ngân hàng không có đột biến, đồng chí Hưng kết luận rõ ràng luôn rằng diễn biến tỉ giá gần đây là do yếu tố tâm lý chứ không phải xuất phát từ mất cân đối cung cầu ngoại tệ.

Sai từ vừa vừa đến rất sai!
Sai vừa vừa vì yếu tố tâm lý đã hình thành từ lâu, chứ không phải đợi đến gần đây mới bộc lộ ra, mới bị cho rằng chỉ xuất hiện sau khi NHNN phá giá 1%. Yếu tố tâm lý hình thành từ lâu trên cơ sở, như tớ nói hôm trước, nhập siêu kinh niên, tỷ giá ổn định quá lâu trong khi lạm phát của Việt Nam quá cao so với các nước khác trong nhiều năm. Tâm lý càng dễ bị gây hoảng loạn/hoảng sợ hơn khi NHNN vừa trước đó cam kết không phá giá, nay lại phá giá (“điều chỉnh”), và chuyện này xảy ra không dưới ... trăm lần từ trước đến nay làm cho năng lực và uy tín của NHNN thành trò cười.

Rất sai, và ngụy biện, vì nếu cân đối ngoại tệ không xấu đi thì cớ gì NHNN phải phá giá, dù chỉ 1%, cho dù thừa biết phá giá, dù chỉ 1% cũng sẽ châm ngòi cho sự hoảng loạn?
Có nghĩa là, hoặc NHNN biết mình đang nói dối mà vẫn cứ phải trâng tráo tiếp tục, trong khi lý do thật sự nằm ở chỗ khác; hoặc rõ ràng cân đối ngoại tệ theo kiểu các đồng chí đang nói đến chẳng liên can mấy đến cái sự đi đâu về đâu của tỷ giá cả. Hoặc cũng có thể NHNN chẳng thể hiểu cái gì đang xảy ra, mình đã, đang và cần phải làm cái gì. Khả năng nào thì cũng cho thấy NHNN đang làm rất tồi công việc của mình, cả về khách quan và chủ quan.    

Rồi đồng chí Hưng lại còn khẳng định NHNN “không điều chỉnh” tỷ giá và sẽ kiên quyết ổn định tỷ giá. Nhưng tiếc rằng, rất tiếc rằng đồng chí Hưng lại nhắc lại rằng tỷ giá chỉ biến động 2%-3% trong cả năm. Nếu đã khẳng định không điều chỉnh, kiên quyết ổn định mà vẫn nói sẽ biến động vậy có nghĩa là hoặc một vài trong mấy khả năng sau: (i) khẳng định mà không chắc (có làm được hay không); (ii) khẳng định một đằng, (để rồi) làm một nẻo; (iii) khẳng định bừa (mục đích để trấn an dư luận là chính, hạ hồi phân giải); (iv) coi “không điều chỉnh” và “ổn định” tỷ giá có nghĩa tương đương với để cho tỷ giá biến động (tăng lên) nữa (từ nay đến cuối năm), là cái mà không thể hiểu được từ cách dùng tiếng Việt, buộc người ta phải đặt câu hỏi không biết đồng chí Hưng có giỏi tiếng Việt hay không.
Khả năng nào chăng nữa thì cũng chỉ có một hàm ý là hãy tiếp tục găm giữ USD vì NHNN chỉ biết/làm được đến thế thôi rồi sẽ phải buông, như đã từng chứng kiến nhiều, nhiều lần trước đây.

 
Gương mặt tiêu biểu thứ hai là của đồng chí Tiến sĩ  Trương Văn Phước. Trước khi viết tiếp, tớ phải phiền bạn đọc tìm giúp tớ đồng chí này lấy bằng TS ở đâu, vì đó là câu hỏi băn khoăn mãi của tớ từ trước đến nay, sau một đôi lần va vấp tranh luận với đồng chí này trên báo chí.
Cụ thể hơn, đồng chí TS Phước nói thế này: “Có một lý thuyết rất kinh điển về tỷ giá hối đoái là lý thuyết về bước đi ngẫu nhiên (Random Walk). Trong cơ chế tỷ giá hối đoái của Việt Nam có rất nhiều cách thức để điều hành trong bối cảnh chúng ta đã lựa chọn một cơ chế thả nổi có điều tiết. Có nhiều lựa chọn. Chúng ta có thể lựa chọn theo phương thức trườn bò của tỷ giá, có thể theo cách thức cố định trong một thời gian nào đó tỷ giá bình quân liên ngân hàng dựa trên một ngang giá trung tâm của tỷ giá hối đoái.”

Hiểu chết liền! Đúng là bước đi ngẫu nhiên có khác, đang từ lý thuyết về bước đi này nhảy một phát sang bàn về cơ chế tỷ giá ở Việt Nam mà (tớ) chẳng hề thấy mối quan hệ nào được nêu ra cả. Tớ nghiệm ra ở Việt Nam có đồng chí này và một số đồng chí khác như đồng chí Ngoạn, hay những khuôn mặt tương tự, rất sính dùng các thuật ngữ, lý thuyết đao to búa nhớn, thích trích dẫn, giảng giải (ấm ớ) về các nghiên cứu học thuật, sách vở, luận thuyết này kia.
Quay lại với bài của trả lời của đồng chí Phước. Bỏ qua cả đoạn dài sau đó từ “Vừa rồi NHNN thử nghiệm một cơ chế để cho tỷ giá hối đoái ổn định thông qua....” đến “Nhưng dù sao Ngân hàng Nhà nước cũng cần xem lại việc lựa chọn một cách thức để cho tỷ giá bình quân liên ngân hàng cố định trong một thời gian lâu sau đó điều chỉnh lên một mức nhất định, hoặc lựa chọn cách thức tỷ giá trườn bò từ từ”, mà tớ đọc chỉ thấy toát lên ý rằng điều chỉnh 1% là chưa đủ liều lượng, như gợi ý của phóng viên (thế mà vòng vo mãi).

Với câu hỏi có phải biến động tỷ giá là do đầu cơ của ngân hàng hay không, đồng chí Phước quầy quậy lắc đầu phủ nhận, với 2 lý do rằng:
(1) thế là sai luật và sẽ bị NHNN phát hiện, xử lý nghiêm túc.

Ô hay, đồng chí Phước không biết rằng đã có bao nhiêu vụ phạm luật của ngân hàng xảy ra hàng ngày hay sao? Chuyện báo chí nêu về mua bán ngoại tệ vượt trần trong ngân hàng khá công khai, chẳng nhẽ các ngân hàng không nhận thức được đó là phạm luật và sẽ bị phát hiện, xử lý hay sao? Sao họ vẫn cố tình làm? Mà đã như thế thì việc đầu cơ ngoại tệ cũng chỉ là chuyện nhỏ với họ thôi chứ, sợ gì?
(2) trước đây ngân hàng chuyển đổi từ USD ra VND để cho vay, giúp giảm lãi suất VND (là đáng khen), nay tỷ giá căng thẳng mà lãi suất VND liên ngân hàng thấp nên họ phải chuyển đổi ngược lại (nhu cầu rất chính đáng).

Hệ hệ, chí lí nhưng không đúng! Đầu cơ nó khác lắm ạ. Đầu cơ là mua gom USD để đó, đợi giá lên thêm mới bán (có thể là trong ngắn hạn), hiểu đơn giản là vậy. Nó không nhất thiết liên quan đến chuyện chuyển đổi đi, chuyển đổi lại như đồng chí Phước đang thuyết giảng. Nếu ngân hàng cho rằng tỷ giá sẽ còn tăng lên, ví dụ, 2% nữa trong tuần tới, tháng tới, thì chẳng có lý do gì mà họ không huy động VND (kể cả tăng thêm một chút lãi suất để dễ huy động) và mua gom USD rồi giữa trong vòng 1 tuần, 1 tháng nữa (trong thời gian đó họ vẫn cho vay số USD này) rồi sau đó bán lại để thu 2% lãi, trong khi lãi suất phải trả cho khoản VND huy động ban đầu chẳng đáng kể nếu tính theo năm, chưa kể lãi suất ngắn hạn thu được từ cho vay USD.
Tóm lại, tớ đã nói vài lần rồi về chuyện tỷ giá ở Việt Nam, thà cứ lẳng lặng mà làm, đừng có lên tiếng thanh minh thanh nga gì, cam kết với quyết tâm/quyết liệt gì, chỉ có tác dụng ngược mà thôi. Lực bất tòng tâm. Cả trí tuệ và thực lực chỉ có vậy thì đừng mong xoay chuyển được thời cuộc.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).