Wednesday, 23 October 2013

Bình ổn thị trường vàng – nhiệm vụ mù mờ và bất khả thi (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 24/10/2013, bản gốc)

Giá vàng trong nước sau một thời gian giảm giá liên tục đã lùi về gần mốc 37 triệu đồng/lượng hồi đầu tuần trước, do ảnh hưởng của giá vàng quốc tế. Điều đáng nói là chênh lệch khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới sau một thời gian thu hẹp về mức 2-3 triệu đồng/lượng, được cho là công lao của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), gần đây lại tăng vọt lên, đạt mức gần 5 triệu đồng/lượng gần đây.

Tuy đã được nhiều người phân tích và chỉ ra những bất hợp lý trong chính sách quản lý thị trường vàng kiểu này của mình, nhưng NHNN vẫn khăng khăng bảo vệ quan điểm và cách làm như hiện nay. Trong bối cảnh chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới lại tiếp tục doãng rộng, điều này lại một lần nữa đặt ra một câu hỏi, liệu chính sách “bình ổn thị trường vàng” của NHNN có là khả thi, và, quan trọng hơn, nhằm mục đích gì?

Trong bài này, ta sẽ phân tích thêm về tính bất khả thi và mù mờ về mục đích của chính sách “bình ổn thị trường vàng” của NHNN.
Việt Nam đã nhập khẩu bao nhiêu vàng?

Cuối tháng 9, NHNN đã có báo cáo một số nội dung liên quan đến công tác quản lý thị trường vàng thời gian qua. Báo cáo cho biết trước đây mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 50-100 tấn vàng; toàn bộ lượng ngoại tệ để nhập khẩu vàng được lấy từ nền kinh tế, do vậy, nhập khẩu vàng trên quy mô lớn đã ảnh hưởng lớn đến tỷ giạ, lạm phát, sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Với lập luận trên, bản báo cáo của NHNN dường như ngụ ý rằng nhu cầu nhập khẩu vàng của Việt Nam kể từ khi NHNN tiến hành chính sách quản lý hiện tại đã giảm đi về quy mô so với con số trung bình hàng năm từ 50-100 tấn như nói trên.

Nhưng theo thống kê của Hội đồng Vàng Thế giới thì tổng nhu cầu tiêu thụ vàng nữ trang và vàng thỏi, vàng miếng đã đạt mức 23,2 tấn trong quý 2 năm nay, tăng tới 24% so với cùng kỳ năm ngoái là 18,8 tấn (Bảng 10, báo cáo: “Gold Demand Trend Q2 2013”). Nếu tính nhu cầu tiêu thụ trong 12 tháng kể từ tháng 6/2012 đến 6/2013 thì Việt Nam vẫn tiêu thụ tổng cộng tới 77,4 tấn vàng (Bảng 12).
Việt Nam là nước nhập khẩu hầu như toàn bộ lượng vàng tiêu thụ, và vì không thể coi con số nhu cầu 23,2 tấn hoặc 77,4 tấn nói trên là tổng lượng vàng có (sẵn) trong nền kinh tế, nên có thể coi nhu cầu tiêu thụ vàng do Hội đồng Vàng Thế giới cung cấp nói trên chính là nhu cầu nhập khẩu vàng thêm vào nền kinh tế hàng quý, hàng năm. Từ đó suy ra tiếp rằng tổng khối lượng nhập khẩu vàng vào nền kinh tế trong thời gian qua không có dấu hiệu giảm sút, nếu không muốn nói là ngược lại, kể cả sau thời điểm NHNN liên tục tung vàng ra thị trường qua đấu thầu.

Thêm nữa, nguồn cung vàng trước đây từ các nhà nhập khẩu vàng (kể cả nhập lậu) với ngoại tệ gom góp trong nền kinh tế, như NHNN khẳng định, thì nay được thay bằng nguồn cung từ NHNN qua đấu thầu. Đương nhiên, lượng ngoại tệ NHNN dùng để nhập khẩu vàng vẫn là lấy từ nền kinh tế (hoặc rút từ nền kinh tế về qua hoạt động mua ngoại tệ với các ngân hàng thương mại, và/hoặc sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối). Điều này cũng có nghĩa là cái lý do rằng độc quyền nhập khẩu vàng để hạn chế sức ép lên tỷ giá mà NHNN đưa ra để biện minh cho hành động của mình là không đúng.
Thị trường vàng đã được ổn định, tình trạng đầu cơ vàng đã được ngăn chặn?

Trong báo cáo trên, NHNN khẳng định thị trường vàng đã được ổn định, nhu cầu vàng miếng đã được đáp ứng, tình trạng đầu cơ vàng đã được ngăn chặn, cung cầu vàng miếng trên thị trường đã được thu hẹp.

Khẳng định trên là tự mâu thuẫn. Nếu nhu cầu vàng miếng đã được đáp ứng thì, như đã nói ở trên, tổng lượng vàng nhập khẩu vào Việt Nam phải ở mức (trung bình) như mọi năm. Mà như vậy thì có nghĩa rằng mục đích quản lý vàng của NHNN để không làm hao tổn ngoại tệ của nền kinh tế Việt Nam là không hiện thực. Nếu lượng vàng nhập khẩu quả thực là nhỏ hơn mức trung bình hàng năm thì điều này lại cho thấy khẳng định của NHNN rằng nhu cầu vàng miếng đã được đáp ứng là không đúng (và trên thực tế đã có một phần cầu vàng không được đáp ứng).
Về tình trạng đầu cơ vàng, bản thân dãn cách giá vàng trong và ngoài nước tăng mạnh đã cho thấy tình trạng đầu cơ vàng đã tăng lên khi một bộ phận nhà đầu tư (có thể là cả cá nhân) cho rằng giá vàng sẽ tăng lên tại một thời điểm nào đó nên họ tích cực gom vàng vào tại thời điểm hiện tại, bất chấp cái giá phải mua là quá cao so với giá quốc tế, với hy vọng rằng giá bán tại thời điểm nào đó trong tương lai sẽ lớn hơn giá mua hiện tại. Đây là điển hình của tình trạng đầu cơ, nên NHNN không có lý do gì để khẳng định rằng tình trạng đầu cơ đã bị ngăn chặn.

Mà cho dù dãn cách có thu hẹp lại thì vẫn có một bộ phận nhà đầu tư vẫn mua gom với hy vọng giá vàng thế giới (và, do đó, giá vàng trong nước) sẽ tăng lên trong thời điểm tương lai, lớn hơn giá tại thời điểm hiện tại, mang lại lợi nhuận cho họ. Để ngăn chặn tình trạng đầu cơ này, NHNN chỉ còn cách ngừng hoàn toàn cung, cấm hoàn toàn hành động mua bán vàng trên thị trường  để nhà đầu tư không thể tiếp cận được với nguồn cung (cả chính thức và không chính thức) và không đầu cơ được. Đương nhiên, điều này là không tưởng và bất khả thi.
Tương tự như vậy, lời khẳng định cung cầu vàng (chắc ý muốn nói là chênh lệch cung cầu vàng) đã được thu hẹp và thị trường vàng đã được ổn định cũng là vô căn cứ. Bản thân việc giá vàng trong nước xuống liên tục trong mấy tuần liền cho thấy hoặc dư cung, hoặc thiếu cầu vàng. Nói cách khác, chênh lệch cung cầu vàng đã tăng (nghiêng về cung). Như vậy, trừ khi NHNN có ý rằng thị trường ổn định có nghĩa là giá vàng (trong nước) đi xuống thì lời khẳng định trên mới phần nào có cơ sở. Nhưng kể cả có như vậy thì NHNN sẽ giải thích ra sao khi giá vàng trong nước lại tăng lên (theo đà tăng của giá vàng thế giới) như một vài hôm trước đây?

Khái quát hơn, vì NHNN, cho dù có độc quyền cung vàng trong nước, vẫn chỉ là một người tham gia cuộc chơi vàng toàn cầu và phải chấp nhận giá cả áp đặt bởi thị trường (price taker). NHNN không bao giờ có thể là người làm giá (price maker). Nên giả sử NHNN có thành công trong việc ổn định thị trường vàng trong nước với cái nghĩa là ổn định (chênh lệch) cung cầu thì thành công này chỉ mang tính thời điểm (thậm chí không kéo dài quá một ngày) vì giá vàng thế giới luôn biến động bất ngờ, kéo theo giá vàng trong nước, như đã được chứng kiến, cho dù mức độ tăng giảm của giá vàng trong nước không nhất thiết tỷ lệ thuận với mức độ tăng giảm của giá vàng thế giới tại cùng thời điểm. Và như thế có nghĩa là NHNN luôn là người chạy sau biến động của thị trường vàng thế giới (và, do đó, biến động của thị trường vàng trong nước), chưa kể tần suất can thiệp, nếu có, là quá nhỏ (tối đa thì cũng chỉ là một ngày một lần, thông qua đấu thầu như mấy tháng nay). Trong bối cảnh luôn phải “vuốt đuôi” thị trường như thế mà nhận rằng đã “bình ổn” được thị trường thì quả là quá ngôn.

Kết luận lại, những diễn biến phức tạp trong thị trường vàng trong nước suốt mấy tháng qua dưới chính sách quản lý vàng của NHNN cho thấy rõ thêm sự mù mờ về mục đích và tính bất khả thi của nó. NHNN càng ra sức biện minh thì càng bộc rõ những lúng túng và sai lầm trong lập luận của mình.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).