Saturday, 5 October 2013

Chọn mô hình nào cho đại diện chủ sở hữu nhà nước? (Bài đăng trên báo Đại biểu Nhân dân)

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=294342

11:12 | 05/10/2013
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình Chính phủ 2 phương án về mô hình quản lý doanh nghiệp nhà nước. Dù chọn phương án nào, thì điều quan trọng là phải khẩn trương cổ phần hóa, tư nhân hóa càng nhiều doanh nghiệp nhà nước càng tốt.
 
Đề án Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước được trình và thảo luận tại phiên họp Chính phủ cuối tháng 8.  Đề án đưa ra 2 phương án về mô hình quản lý doanh nghiệp nhà nước. Tại phương án thứ nhất, Chính phủ thành lập Ủy ban Quản lý, giám sát doanh nghiệp nhà nước (UBQLGS) làm đầu mối thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước quan trọng, bao gồm cả Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Còn trong phương án thứ hai, bộ quản lý ngành thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước còn UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích trực thuộc.
 
Được biết, ban đầu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiêng về phương án thứ nhất do sẽ giúp khắc phục được những hạn chế của việc chưa tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu và phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, sau đó, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh cũng nhìn nhận, phương án thành lập một cơ quan làm đầu mối thực hiện chức năng đại diện đối với toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước là không khả thi do quá tải nghiêm trọng trong quản lý. Và phương án này chỉ có thể thực hiện khi số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm đến mức tối thiểu.
 
Quả thực, phương án thứ nhất có một nhược điểm lớn. UBQLGS này (tạm gọi là UBQLGS cấp 1) chỉ làm đại diện chủ sở hữu nhà nước với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước quan trọng. Với hàng chục nghìn doanh nghiệp khác có vốn nhà nước (gồm cả doanh nghiệp mà nhà nước không nắm giữ 100% vốn chủ sở hữu), thì về nguyên tắc sẽ phải lập ra một UBQLGS cấp 2 hay một cơ quan chức năng gì đó nữa để đảm nhiệm vai trò đại diện chủ sở hữu nhà nước ở các doanh nghiệp nhà nước không phải tổng công ty, tập đoàn quan trọng, nếu không muốn để xảy ra tình trạng “cha chung không ai khóc” như trước đây.
 
Việc phải có đến 2 UBQLGS để quản lý các đối tượng khác nhau đương nhiên sẽ dẫn theo sự cồng kềnh và chồng chéo về bộ máy, biên chế phình to, tốn một loạt các chi phí khác để duy trì cho cả 2 bộ máy hoạt động, là điều khó có thể chấp nhận trong bối cảnh hiện nay.
 
Ngoài ra, mới nghe qua thì cái từ “Ủy ban” có vẻ sẽ gọn nhẹ về biên chế và năng động hơn trong việc làm đại diện – là những tiêu chí quan trọng đối với việc thiết kế bộ máy quản lý nhà nước. Tuy vậy, sự thực chắc chắn sẽ khác nhiều. Với việc làm đại diện chỉ ở các tập đoàn, tổng công ty quan trọng của nhà nước thì có thể UBQLGS cấp 1 sẽ có bộ máy biên chế tinh giản, gọn nhẹ hơn. Nhưng với UBQLGS cấp 2 làm đại diện ở hàng vạn doanh nghiệp từ trung ương đến địa phương, thực tiễn chắc chắn sẽ đòi hỏi nó cũng phải được cơ cấu với bộ máy hoạt động cũng lan rộng từ trung ương đến địa phương để nắm sát được tình hình hoạt động có ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà nước ở các doanh nghiệp này.
 
Tóm lại, phương án thứ nhất trên thực tế hoàn toàn có thể vấp phải vấn đề cồng kềnh và kém hiệu quả trong hoạt động của bộ máy đại diện chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước, chính là điều mà chúng ta đang tìm cách khắc phục.
 
Đối với phương án 2, điểm lợi lớn nhất và dễ thấy nhất là có thể tận dụng được bộ máy quản lý nhà nước hiện thời cho việc quản lý vốn chủ sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, mặt hạn chế lớn nhất, và chính là lý do để chúng ta phải tìm một giải pháp khác, là trong cơ chế này thì chức năng quản lý nhà nước lại bị trộn lẫn với chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước, vì người thực hiện 2 chức năng này là một.
 
Nói cách khác, hiện tại, cả 2 phương án đều có những hạn chế lớn, không thể khắc phục, đòi hỏi phải có một phương án thứ 3. Và trong lúc chờ cho đến khi có sự ra đời của một phương án khả dĩ thì có lẽ phương án 2 vẫn phải là phương án chính, chủ yếu vì nó không mang lại sự xáo trộn lớn cũng như các chi phí tốn kém như trong phương án 1.
 
Nhưng khi thực hiện phương án 2, hoặc kể cả phương án 1, bên cạnh những giải pháp vi mô thường được đề cập như tăng cường năng lực quản lý của các bộ chủ quản, UBND cấp tỉnh, gắn chặt trách nhiệm quản lý với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp v.v..., điều quan trọng là phải khẩn trương cổ phần hóa, tư nhân hóa càng nhiều doanh nghiệp nhà nước càng tốt. Một khi quy mô và số lượng doanh nghiệp nhà nước đã thu hẹp lại đến mức tối thiểu thì việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước còn lại sẽ dễ dàng hơn nhiều và sẽ có nhiều lựa chọn khả thi hơn cho mô hình quản lý doanh nghiệp nhà nước lúc đó. Ngược lại, nếu không nhanh chóng giảm được quy mô và số lượng doanh nghiệp nhà nước thì tình trạng bùng nhùng này sẽ còn kéo dài vì không thể biết nên bắt đầu từ đâu và làm cái gì thì tốt hơn.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).