Tuesday, 22 October 2013

Chuyện linh tinh

Tớ mới đi Penang nạp năng lượng về. Cũng chẳng có gì nhiều để nói ngoài mấy cái quan sát nhỏ nhặt. Tớ cũng đã đi vài nơi ở Malaysia nên thấy họ bảo vệ rừng khá tốt. Cây cối trên núi, trong công viên, trong rừng vẫn còn khá nguyên sơ. Thành phố khá vệ sinh, sạch sẽ.

Điểm không ngờ là giá nhà cửa tại Penang khá đắt đỏ. Những căn hộ condo tại những vị trí đắc địa lên tới vài triệu ringgit (hàng triệu đô Mỹ rồi). Tớ vốn chỉ quen với khái niệm nhà cửa đắt đỏ ở Sing, nhưng sang đây mới thấy mình nhầm. Đồng chí Jackie Chan còn chọn mua một căn hộ penthouse tại nơi này nữa (nghe đâu trị giá vài triệu đô Mỹ), chắc cũng có lý của mình.

Có một điểm chung giữa Malaysia và Indonesia mà tớ rất ghét là 2 nước này duy trì chế độ 2 giá tại nhiều nơi vui chơi, giải trí hoặc tại một số nơi (công cộng) khác. Giá vé bán cho người nước ngoài gấp tới dăm đến cả chục lần giá vé bán cho dân bản địa. Ngẫm ra Việt Nam mình còn tiên tiến chán. Trước đây ta cũng có chế độ 2 giá, nhưng hình như nay đã không còn phổ biến lắm (vẫn còn, tỷ như vào địa đạo Củ chi hay Bảo tàng chứng tích chiến tranh ở SG, lần tớ về đó hồi tháng 4). Bây giờ thành là người nước ngoài đối với mấy nước này nên tớ mới hiểu được cái cảm giác bực bội, thấy mình là mục tiêu chặt chém, làm tiền không chỉ của tư nhân mà còn cả của chính phủ từ trên xuống của người nước ngoài khác trước đây ở Việt Nam, và những lời kêu ca của họ.

Chuyển sang chuyện khác. Đọc bài về tỷ giá này trên VnEconomy, tớ lại càng thấy có sự "tự diễn biến", những chuyển biến theo hướng mà đồng chí X đã tuyên bố trong trả lời phỏng vấn Bloomberg (cũng lạ, tại sao trả lời phỏng vấn nước ngoài thì nói rõ vậy, nhưng phát biểu trong nước thì hình như chưa bao giờ tớ nghe thấy cái gì tương tự, từ đồng chí X hay từ bất kể đồng chí nào khác. Phải chăng Việt Nam muốn duy trì chế độ 2 chính sách về tỷ giá chăng?).

VnEconomy vốn là tờ có nhiều bài đăng (mà cụ thể là của đồng chí Minh Đức) về tỷ giá theo đường lối của NHNN. Nhưng xem ra trong bài này, tác giả đã hiểu biết và thận trọng hơn,và cố gắng khéo léo lái phát biểu của đồng chí X theo hướng mà NHNN đã mạnh mồm tuyên bố nhiều lần, mặc dù tớ chẳng thấy có cái gì chung cả. Tiếc rằng, những "chuyên gia" với "nguồn tin có thẩm quyền" được trích dẫn trong bài nay đã tắt loa về cái gọi là "không phá giá" mà chỉ "điều chỉnh" (nếu có) vì "cung cầu vẫn bình thường". Thay vào đó, chuyện "phá giá" do "VND bị định giá cao" nay đã chính thức được thừa nhận, nêu ra công khai, đúng từng chữ như thế, chứ không còn cái kiểu nói lái, nói tránh, vòng vo, đánh tráo khái niệm v.v... như các bài trước trên báo và trong các trả lời chất vấn, phát biểu chính thức của NHNN.

Ấy thế mà hôm trước, hình như trong một cuộc hội thảo, họp hành nào đó mà vẫn có nhiều đồng chí chuyên gia, gồm cả Phạm Chi Lan, phản đối phá giá, vẫn với những lý do cũ rích và vớ vẩn. Hình như vẫn chưa có thêm một ai lên tiếng theo, dựa hơi đồng chí X (như tớ!). Để rồi xem mấy đồng chí trung kiên với không phá giá có còn tiếp tục cái điệp khúc này nữa không.

Ngẫm ra, đúng là miệng nhà quan có gang có thép thật. Chỉ cần một câu của đồng chí X là tình hình xoay 180 độ, và các đồng chí chuyên gia ếch và đám bồi bút nay lại phải vắt óc xoay chuyển câu chữ và lời nói sao cho không lòi cái ngu, cái hèn, cái thối của mình ra, hoặc đơn giản là không đi ngược lại tinh thần của đồng chí X (nếu vẫn bảo thủ, nghĩ rằng mình suy nghĩ đúng, chỉ tại đồng chí X nói thế nên phải chịu). Giá mà xảy ra sớm một chút thì có phải là tiết kiệm bao nhiêu nước bọt trong các cuộc tranh luận giữa những người như tớ (có một dúm) với một đống quan chức và chuyên gia khác không nhỉ. Thật tiếc!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).