Thursday, 5 December 2013

Ở đâu động lực tăng trưởng? (Bài đăng trên TBKTSG, số 5/12/2013, bản gốc)


Trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng thấp hơn so với mức được coi là tiềm năng và vẫn còn đó những bất ổn kinh tế vĩ mô, một câu hỏi được đặt ra là phải làm gì để “vực” dậy tăng trưởng kinh tế trong khi vẫn tiếp tục cải thiện các cân đối kinh tế vĩ mô.
Trả lời câu hỏi trên, gần đây có luồng ý kiến cho rằng đã đến lúc Việt Nam cần phải từ bỏ chính sách quản lý tổng cầu (hay “trọng cầu”) để thúc đẩy tăng trưởng. Thay vào đó là chính sách “trọng cung”, gồm thực thi chính sách tiền tệ theo hướng duy trì lạm phát ở mức thấp, giúp doanh nghiệp có thể tiên đoán được sự biến đổi về lãi suất, nhờ đó có thể giúp doanh nghiệp xây dựng được các chiến lực kinh daonh và yên tâm bỏ vốn đầu tư trong trung và dài hạn; giảm các loại thuế và phí, cắt giảm chi tiêu chính phủ; đẩy nhanh hơn nữa tiến độ cổ phần hoá các DNNN; giải điều tiết các thị trường, tăng cường cạnh tranh và tự do thương mại; khuyến khích đầu tư vào phát triển công nghệ, giáo dục và đào tạo để cải thiện năng suất và phát triển vốn con người.

Đối với luồng ý kiến này, có thể thấy một số vấn đề cần làm rõ thêm.

Nhận diện thách thức hiện tại
Nền kinh tế Việt Nam hiện đang phải đối mặt với tổng cầu tăng yếu (hơn mức kỳ vọng và/hoặc tiềm năng), thể hiện ở tăng trưởng GDP và chỉ số bán lẻ ròng thấp. Cầu yếu còn thể hiện ở  việc dư cung, với chỉ số hàng tồn kho cao, ở việc doanh nghiệp không dám vay vốn (mặc dù đủ điều kiện vay với lãi suất ưu đãi) để mở rộng sản xuất. Trong khi đó, thu ngân sách bị hụt lớn (so với kế hoạch) do Chính phủ tiến hành một loạt động thái cắt giảm, hoãn, miễn,  hoàn thuế trong khi mức giao nộp của doanh nghiệp và cá nhân, theo báo cáo, bị sụt giảm bởi sản xuất kinh doanh không khả quan.

Cho dù các thách thức trên có thể chỉ là ngắn hạn nhưng nếu không có biện pháp xử lý đúng đắn thì chúng sẽ thành vấn đề có tính dài hạn hơn. Nói cách khác, hiện nay nền kinh tế đang đối mặt với thiếu cầu chứ không phải thiếu cung để mà phải “kích cung”. Nên nếu tiến hành chính sách trọng cung (hiểu ở đây chắc là, theo ý của phía “trọng  cung” này, phải tăng cung hơn nữa; và lưu ý thêm rằng hiểu như vậy thì chính sách này không thể được gọi là “trọng cung” theo đúng định nghĩa của nó) thì nền kinh tế sẽ càng phải chứng kiến sự dư thừa, tồn kho hàng hóa lớn hơn, doanh nghiệp càng phải co hẹp và đóng cửa nhiều hơn. Vì thế, chí ít thì tình trạng thiếu cầu (và dư cung) là căn bệnh đang diễn ra hiện nay và cần phải được giải quyết ngay và trước mắt đã. Cho đến khi nào sự bất cân đối này được cải thiện thì có thể lúc đó ta mới có thể phải xem xét các biện pháp kích thích sản xuất kinh doanh (lưu ý lại là các biện pháp này không thuộc về chính sách “trọng cung” theo đúng nghĩa của nó) trong trung và dài hạn.
Trong bối cảnh hụt thu ngân sách ở mức lớn như hiện nay (và còn kéo sang ít nhất năm sau), chính sách trọng cung với các biện pháp giảm thuế phí hơn nữa chỉ càng dẫn đến sự hụt thu trầm trọng hơn. Nguy hiểm hơn, điều này sẽ càng buộc Chính phủ phải dựa vào Ngân hàng Nhà nước (NHNN) để tiền tệ hóa khoản thâm hụt ngân sách Chính phủ, tức là làm trầm trọng thêm các bất ổn vĩ mô (áp lực lạm phát và tỷ giá gia tăng v.v...).

Cho dù phía trọng cung nói trên có đề cập đến giảm chi tiêu Chính phủ, nhưng rõ ràng là cho dù có giảm được chi tiêu Chính phủ nhưng thâm hụt ngân sách vẫn có khả năng không giảm đi, thậm chí vẫn trầm trọng hơn, nếu tổng thu ngân sách giảm mạnh hơn mức giảm chi của Chính phủ. Chưa nói thêm rằng giảm chi tiêu của Chính phủ sẽ lại dẫn đến vòng luẩn quẩn là tổng cầu yếu lại càng thêm yếu trong khi cái cần ngay trước mắt là phục hồi tổng cầu, chứ không phải là tổng cung.

Động lực tăng trưởng nằm ngay ở giải pháp xử lý những thách thức hiện tại
Xử lý được những “điểm nghẽn tăng trưởng” nói trên cũng tức là mang lại động lực phục hồi tăng trưởng cho nền kinh tế. Và giải pháp xử lý đương nhiên sẽ phải là tăng tổng cầu (và giảm tồn kho), và giảm thâm hụt ngân sách Chính phủ. Vì khuôn khổ giới hạn, nên ở đây ta chỉ nêu một số nét làm ví dụ.

Tổng cầu gồm có cầu từ thị trường nội địa và từ xuất khẩu. Tuy xuất khẩu đã tăng trưởng rất khả quan trong suốt mấy quý qua nhưng vẫn có thể tạo thêm dư  địa để khu vực này đóng góp tích cực hơn nữa vào tăng trưởng kinh tế, thông qua các biện pháp như phá giá tiền đồng để tăng sức cạnh tranh, nhờ đó tăng được doanh số xuất khẩu. Xuất khẩu tăng sẽ có tác động tích cực tới nền kinh tế nội địa khi nó tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập, thuế phí giao nộp, v.v... và tức là tăng tổng cầu.
Ngoài mặt lượng, dư địa đóng góp của xuất khẩu vào tăng trưởng còn có thể được mở rộng thêm về chất, tức nhờ vào tăng hàm lượng giá trị gia tăng trong hàng xuất khẩu. Các biện pháp chính sách theo hướng này là phải tăng cường liên kết theo chuỗi giữa hoạt động xuất khẩu với hoạt động của các ngành công nghiệp phụ trợ. Mà theo hướng này, một loạt các biện pháp chính sách cần phải tiến hành, trong đó đáng kể nhất là cải thiện tính hiệu quả của việc hoạch định chính sách, của hoạt động của bộ máy công quyền, quản lý hành chính; cải thiện chất lượng và số lượng các yếu tố đầu vào như lượng và chất nguồn lực lao động, đất đai, hạ tầng v.v...

Đối với thị trường nội địa, giảm, miễn và hoãn thuế phí như đã và đang làm có lẽ không phải là một giải pháp hiệu quả và có tính quyết định, vì như đã nói, nó có tác dụng phụ là làm tăng hụt thu. Ngay những nước như Nhật, với nền kinh tế trì trệ hàng thập kỷ qua, vẫn phải cân nhắc đến tăng thuế tiêu thụ để bù đắp nguồn thu. Thay vào đó, cải thiện lòng tin của người tiêu dùng, của doanh nghiệp vào triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là điều cần được ưu tiên để họ mở rộng hầu bao cho tiêu dùng và đầu tư. Mà để làm việc này thì việc giảm thiểu tính bất trắc của nền kinh tế trong tương lai, chứ không phải là việc nâng lên hay hạ xuống bản thân một chỉ số kinh tế vĩ mô nào đó (như lạm phát), mới là điều quan trọng. Người ta thậm chí còn mạnh tay chi tiêu tại thời điểm hiện tại nếu nhìn thấy trước được rằng lạm phát chắc chắn sẽ ở mức xung quanh, chẳng hạn, 7% vào năm sau. Kể cả đối với đầu tư cũng vậy, đầu tư vẫn có thể tăng nếu nhà đầu tư tính toán được bài toán lợi nhuận dựa trên mức lạm phát cho trước hầu như là sẽ thành sự thật này. Điều rủi ro mà người ta lo ngại nhất, và co lại, chính là việc dự tính lạm phát một đằng mà thực tế hóa ra một nẻo. Nói cách khác, chính sách tiền tệ làm cho lạm phát ở mức thấp, như phía “trọng cung” đề xuất, không nhất thiết là cần thiết và/hoặc có lợi hơn một chính sách tiền tệ gây ra lạm phát cao hơn, nhưng ổn định hơn.
Với chi ngân sách Chính phủ, cắt giảm chi tiêu và đầu tư công vừa là điều không dễ dàng, vừa là điều không nhất thiết là ưu tiên hàng đầu, đặc biệt trong bối cảnh không còn trông chờ vào đâu để vực tổng cầu. Thay vào đó, và hiển nhiên là vậy, hiệu quả chi tiêu là điều cần chú trọng. Theo hướng này, tất nhiên sẽ có một loạt biện pháp chính sách cần được xây dựng và thực thi để cải thiện chất lượng chi tiêu của Chính phủ. Một khi hiệu quả chi tiêu được nâng cao thì đương nhiên nhu cầu tăng thâm hụt ngân sách sẽ phải giảm đi.

Những giải pháp trên cũng sẽ mang lại động lực tăng trưởng trong trung và dài hạn
Không như một số người sẽ hiểu lầm rằng các giải pháp trên chỉ mang tính ngắn hạn, đối phó với những thách thức hiện tại. Cần lưu ý rằng các giải pháp trên thường là (và liên quan đến), như đã dẫn chứng,  việc cải thiện tính hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế, của từng khu vực, thành phần kinh tế và của chức năng và hoạt động của Chính phủ v.v... để sao cho cùng một nguồn lực hiện có nhưng thành quả đóng góp vào tăng trưởng kinh tế lớn hơn.  Mà bản thân nội hàm của việc cải thiện tính hiệu quả đã tự nó bao gồm tất cả những biện pháp mà phía “trọng cung” đề xuất. Chẳng hạn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cũng chính là một biện pháp để cải thiện tính hiệu quả của khu vực kinh tế này, sao cho ngân sách không phải bỏ thêm vốn ra mà đóng góp của nó lại tăng lên. 

Tóm lại, đi tìm và mang lại động lực cho hồi phục và tăng trưởng kinh tế không nên chỉ giới hạn ở trong 2 khái niệm “trọng cầu” và “trọng cung”. Trong ngắn hạn, động lực này nằm ngay ở chính kết quả của các giải pháp có xử lý hữu hiệu được các khó khăn và thách thức hiện nay của nền kinh tế hay không. Tiếp tục thực thi hữu hiệu các giải pháp này để cải thiện tính hiệu quả của các nguồn lực trong trung và dài hạn cũng chính là động lực cho tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).