Wednesday, 15 January 2014

Thư của bạn đọc gửi liên quan đến đồng chí Huyền Chíp

Hôm trước, có đồng chí gửi tớ link đến thư của đồng chí ấy gửi cho đồng chí Huyền Chíp trên facebook, nhưng tớ không có nên đồng chí ấy gửi bằng email cho tớ. Nội dung của thư có một số chi tiết đáng suy ngẫm nên tớ post lại ở đây để các đồng chí có them cái để đọc. Tớ chỉ post ở đây thôi chứ không có ý định comment gì hết.

-----------------------------------------------------------

Tớ chỉ là 1 anh quèn a dua facebook cho kịp với thời đại chứ cũng ko biết gì về IT cả, nhìn thấy những đóng góp học thuật của Phan tiên sinh bên dưới, tớ hãi quá, xin Phan tiên sinh lượng thứ! 
Blog ko cho up quá 4096 ký tự do vậy tớ đành gửi mail, nếu muốn a Phan có thể up lên blog như là 1 cmt của bạn đọc!
Đây là toàn văn bức thư tớ gủi Chip hôi, để Chip thêm dũng khí vượt qua khó khăn... Tớ chả có tí liên quan nào đến em đó cả, nhưng cũng là thằng đàn ông Viêt nên thấy có nhóc con tinh tướng với Chị Em cũng thấy xấu mặt thay!
 
TẢN MẠN CHUYỆN CHIP, LAN MAN CHUYỆN ĐỜI
Chào em, HuyềnChip,
 
Đọc sách em xong đã mấy hôm rồi, và anh cũng hay theo dõi những phản hồi của dư luận xung quanh cuốn sách vừa ra mắt cùng chút thông tin cần hỏi, hôm nay anh tranh thủ gửi đến em đôi lời. Anh là Thắng, một độc giả dự họp báo và đã xin thông tin của em hôm ở L’espace tháng trước.
Anh tình cờ tìm thấy tập 1 Xách ba lô lên và đi trong thư viện Hà Nội cách đây không lâu, và đã tò mò đọc hết cuốn sách dù không có nhiều thời gian bởi anh cũng là một người đã và cũng rất thích đi du lịch, tìm hiểu các nền văn hóa. Thú thật, lúc đầu anh hơi choáng và rồi khâm phục khi biết tác giả của nó là một cô gái mới chỉ 19, đôi mươi!
Đã lâu rồi mới xuất hiện một sự kiện văn hóa đặc sắc trong giới trẻ, và nó hoàn toàn khác với những vụ ồn ào, khoe thân khoe “bị” kiểu hãnh tiến, trọc phú đang diễn ra như nấm sau mưa trong xã hội Việt Nam hiện nay... Những sự kiện tích cực đã ít, sự kiện về sách lại càng ít hơn, mà lại là chuyện thật, li kỳ kiểu “Papillon” của Henri Charrière nên lại càng trở nên bom tấn giữa rừng sách sáng tác.
Trong cơ man những thông tin, hình ảnh khoe khoang sự hoành tráng, phong phú của cơ ngơi các Sao Việt, có lẽ có một chi tiết mà ít người Việt Nam trong nước để ý, phát hiện! Đó là: Anh chưa bao giờ nhìn thấy phòng đọc sách, thư viện gia đình hay thậm chí chỉ 1 tủ sách của họ, thay vào đó là những xe cộ, nội thất, túi xách, quần áo, giày dép v.v., ngồn ngộn tầm thường… Vậy nó nói lên điều gì? Chính là sự thiếu vắng, nghèo nàn đến thảm hại về tri thức, dân trí, của đời sống tinh thần của một bộ phận tầng lớp mới giàu lên, vốn được coi là những thần tượng ở Việt Nam. Thế nên cũng chẳng có gì lạ khi thống kê cho biết người Việt đọc sách thuộc loại ít nhất thế giới. Không phải ngẫu nhiên sự thịnh vượng của 1 đất nước luôn tỉ lệ thuận với tầm cỡ ngành xuất bản.
Nhìn ra các xứ phát triển, tầng lớp trung, thượng lưu của họ thường là những người có tầm, yêu văn hóa, trọng tri thức, họ luôn dành một nơi trang trọng, yên tĩnh làm một thư viện nhỏ, cũng là để hướng văn hóa đọc cho con cái. Các vua chúa châu Âu cũng như chính quyền kế tiếp thì khỏi nói, đã xây dựng cho xã hội những thư viện không thể hoành tráng hơn, không thể trang trọng hơn với những bộ sưu tập sách đồ sộ… A. Einstein từng bàn về giáo dục, đại ý: Cần phải hướng con người tới những giá trị nhân bản, nếu không anh ta, với kiến thức chuyên môn hoá sẽ giống như một con chó được huấn luyện tốt, chỉ tôn thờ sự thành công hám lợi như một sự chuẩn bị cho sự nghiệp tương lai, thay vì phục vụ xã hội một cách cao cả (đúng là hiện trạng chúng ta). Nhà văn quen thuộc Nguyễn Nhật Ánh cũng viết: Đồng tiền mang khuôn mặt của người cầm (dùng) nó...
Trở lại chuyện Chip, chiều hôm 18/9 tình cờ đọc được tin trên mạng thông báo Huyền Chíp sẽ tổ chức họp báo và ra sách tập 2 Xách ba lô lên và đi, anh đã quyết định đến. Lần đầu tiên nhìn thấy nhân vật chính, anh hơi ngạc nhiên khi thấy Chip không có cái vẻ “bụi bặm”, “phượt thủ prồ” mà anh đã từng gặp ở giới trẻ nước ngoài, trái lại là một cô gái trông cũng “hay hay”, dễ mến, có vẻ ít quan tâm đến ngoại hình, giản dị, tóc dày tự nhiên, lại có vẻ dịu dàng nữa, điều đó khác nhiều với những cô cùng trang lứa trong nước tuy táo tợn trong ăn mặc, hành xử (nhiều người gọi không đúng lắm là Tây hóa) nhưng có khi lại “sọc dưa”, khóc nhè nếu chẳng may lỡ chuyến xe cuối cùng trong đêm vắng... Liệu đây có phải là một lý do mà nhiều độc giả đã sinh nghi ngờ về tính chân thực của câu chuyện?
Nhân đây anh cũng nói qua về mình, anh là dân 7x, từng du học và làm việc tai Tiệp Khắc cũ (nay là Cộng hòa Séc), rồi qua Đức, Pháp, Bỉ,... lang thang cũng cỡ chục nước Châu Âu. Vì thế, anh cũng đã từng nếm trải những màn ngủ vạ, ăn uống thất thường thiếu chất, hay vượt biên, trốn vé, v.v... Nên rất thông cảm và hiểu những gì em đã kể lại trong sách, dù châu Âu có khác đi chăng nữa nhưng cũng đủ các vấn đề, và mùa đông rất lạnh; Chip’s story không phải là chuyến dạo chơi lãng mạn dành cho kẻ nhút nhát, yếu đuối, đó là chuyến đi bão táp, là bài thực hành tốt nghiệp đại học kỹ năng sinh tồn, đó như là cuộc “thập tự chinh-hành hương” trở về với bản ngã, đến với đam mê...
Dù em ít kể những chi tiết vặt, nhưng là người cũng đã từng tự lập khá lâu, anh biết luôn có những phiền toái mọi lúc mọi nơi mà ta phải tự tìm cách giải quyết. Như đang đi chỗ đông người, bất tiện lại rất cần nhà vệ sinh, hay cuốc bộ nhiều quá đến nỗi đêm về buốt tận óc, tê dại hết 2 chân không tài nào ngủ được, hay nhầm đường sau khi đã hăm hở một quãng dài, rồi mất nọ mất kia, giày phồng chân hay đơn giản là cả tuần chưa tắm, da kém cảm giác với quần áo bết nhớp khó chịu… và lại còn đống hành lí ăn bám sau lưng nữa chứ.
Trước nay, người Việt nam ta chỉ loanh quanh với “giặc ngọai xâm”, “cơm áo”, “bằng cấp...” mà quên đi những trải nghiệm “sống” khác. Khái niệm đi du lịch hay xuất ngoại cũng chỉ mới xuất hiện trong dân cỡ 20 năm nay, thế nên con người rất ít được mục sở thị bên ngoài, nhiều người cứ nghĩ nước nào cũng như ta!? Thêm vào đó, ảnh hưởng nặng của văn hóa Khổng Giáo ưa an nhàn, nhu thuận, an toàn, ngại dư luận, bề trên luôn đúng v.v, thế nên cả dân tộc Việt như tự giam hãm chính mình... Chả thế mà dù chúng ta tự hào là thông minh, khéo tay, nhưng đến nay cũng chẳng làm nổi một chiếc đồng hồ! Chả thế mà dù có hàng ngàn km bờ biển, nhưng ngàn năm ta vẫn sống như một dân tộc lục địa, chả dám vươn ra biển lớn khám phá, đến muối ăn có lúc còn thiếu và đắt, chứ đừng nói đi chinh phạt bờ cõi khác... Chả thế mà Nguyễn Trường Tộ đã suýt bị vua Tự Đức xử trảm sau khi ông đi sứ Pháp về ca ngợi nền văn minh công nghiệp với cái đèn treo ngược (bóng điện) vì tội “vọng ngữ khi quân” (dối vua)... Và cũng bởi ít được giao lưu với thế giới, nên dân Việt tới giờ vẫn thích ôn cố, hay nhắc về những chiến thắng quân sự để tự hào (ăn mày dĩ vãng - Chu Lai), dù chính đáng nhưng sao vẫn thấy buồn lòng chua xót, trong khi các dân tộc văn minh khác đã tiến xa và thích tự hào, tôn vinh các giá trị tri thức thay vì say sưa trong vinh quang xương máu…
Có một câu chuyện không biết thật hay vui, là có lần báo chí phương Tây phỏng vấn một cụ bà đắc thọ Bách niên ở Việt Nam (anh không nhớ tên): “Cụ đã đi đâu bao giờ khỏi quê mình chưa?”. Cụ bảo: “Từ nhỏ đến giờ tui chỉ mò cua bắt cá, vui sống với con cháu ở làng thôi!”, thế là họ kết luận: “Thế thì Cụ chưa bao giờ SỐNG cả!” .
Các dân tộc phương Tây, cụ thể Đế quốc Anh thế kỷ 17 dù chỉ có vài triệu dân nhưng đã thống trị khắp thế giới, hay Bồ Đào Nha, Hà Lan bé tí teo nhưng đô hộ tận Macao, Indonesia..., và cũng cần biết, nhiều khám phá, phát minh lớn lại không phải là kết quả từ những nỗ lực kiểu chính quy, bài bản, của những con người được đào tạo đúng chuyên môn, mà đến từ sự tình cờ, ngẫu nhiên, phi quy luật, hay những quyết tâm, đam mê cháy bỏng ngoài ngành. Ví dụ, phát minh ra máy bay là của anh em nhà Wright vốn chỉ là nhà sản xuất xe đạp, trong khi đó Chính phủ Mỹ đầu tư cho cả một đội ngũ khoa học để tìm cách phát minh ra cỗ máy nặng hơn không khí mà bay được thì hết thất bại này đến thất bại khác, rồi Edison, Honda cùng bị trường lớp chính quy coi là đồ bỏ,… hay gần gũi hơn như thày giáo dạy sử Võ Nguyên Giáp...
Tất cả những lùm xùm quanh cuốn Xách ba lô lên và đi gần đây đã phần nào tố cáo chủ nhân của chúng đích thị là con cháu của dân tộc vẫn “say sưa dưới chiến hào”. Nếu cuốn sách phát hành ở một quốc gia khác, văn hóa khác, chắc chắn sự đón nhận của độc giả cũng rất khác, có thể được ca ngợi hay quên lãng vì cũng không có gì mới (phương Tây chẳng hạn), hay thậm chí còn bị “Ném đá” mạnh hơn cả Việt Nam (hồi giáo chẳng hạn).
Dù anh biết có một số chi tiết trong sách không hoàn toàn chính xác, nhưng nó không nghiêm trọng, bởi sự việc được mô tả bởi một cô gái trẻ, và nói chung, Nữ thể hiện chắc chắn khác Nam. Đọc sách Chip, anh thấy nhiều đoạn về văn hóa, con người bản địa khá tinh tế, sâu sắc và nhân bản, điều mà nhiều cô gái sống ở Việt Nam ngày ngày chỉ quen với gia đình, con cái, giá son giá váy bon chen, hay tác giả nam... không bao giờ có thể có được! Sự nhạy cảm nữ tính và tình yêu, sự hồn nhiên tươi trẻ rất teen, duy tình chứ không duy lý, đó chính là thế mạnh và cái đẹp của cuốn sách. Nhưng nó lại ít các yếu tố định lượng định tính, mang tính kỹ thuật như thời tiết, nhiệt độ, thủ tục, những con số chính xác, không gian v.v. khô khan lạnh lùng, cái mà nam giới lại mạnh, thế nên câu chuyện không thể đánh giá theo kiểu cẩm nang du lịch. Anh cũng biết em từng là học sinh chuyên cua ĐH Khoa học Tự nhiên và khỏi phải nghi ngờ về sự thông minh trừu tượng của Chip ở đây, nhưng trong văn chương, nữ vẫn luôn có cách biểu đạt riêng!
Anh đã gặp nhiều dân phượt, lang thang ở châu Âu, đủ các thể loại, phải công nhận người Tây phương rất năng động, hướng ngoại, thích khám phá di chuyển, dù không phải ai cũng có tiền, thế nên không tiền thì đi kiểu không tiền, có sao đâu! Với họ, đợi đủ tiền để đi là một sai lầm lớn. Họ chỉ có một lợi thế duy nhất so với ta là mang hộ chiếu của các nước phát triển, hay còn gọi là thế giới thứ nhất (ta, các nước châu Phi v.v. là thế giới thứ ba) nên xin visa khá dễ dàng, yêu cầu ít, nhưng cũng không được làm việc nếu không có giấy phép. Có cô người Australia có vài ngón ảo thuật, thế là đi đến đâu gặp quảng trường (các thành phố châu Âu đều có khá nhiều không gian công cộng để dân vui chơi, tụ tập) là cô ấy cũng biểu diễn rồi chìa cái mũ xuống hè để ai thích thì cho. Hay nhiều anh Tây lang thang kéo đàn, vẽ chân dung cho khách, hay dân da đen thường có trò tết tóc kiểu Phi 5-10$/cái, v.v… (cái này em biết rồi). Điều muốn nói ở đây chính là bản lĩnh tự lập, không dựa dẫm của họ, khác xa cái văn hóa bao bọc của dân Việt mình (nếu an phận ngồi nhà, thì các nước phương Tây luôn có chế độ an sinh xã hội, trợ cấp tối thiểu hàng tháng cho họ).
Còn nói về sự chân thực, có lẽ xã hội ta đang có quá nhiều giả dối trong mọi lĩnh vực nên người dân rất nhạy cảm chăng, ít có sắc dân nào luôn phải căng mình ra để đối phó, cảnh giác trong đời sống như dân Việt... Ai mà biết được có bao nhiêu thanh niên đã hy sinh bởi ảnh hưởng từ bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” của Tố Hữu, người khi viết còn chưa bao giờ đặt chân đến đó. Ai mà biết được có bao nhiêu thiếu niên đã bỏ mạng vì học theo gương Kim Đồng, Lê Văn Tám, những “con người” chưa bao giờ tồn tại trên cõi đời này… nhưng lại ngự đàng hoàng trong nhiều cuốn sách và còn không ít ví dụ dân đen không muốn kể vì nhạy cảm… Thế nên cái xứ Việt mình còn mệt, thấy con mèo trộm con cá nhép thì đánh trối chết, còn thấy ông Ba mươi tha cả con lợn của hợp tác thì cũng đành im cho lành... Chúng ta đang chịu hệ lụy không nhỏ của một hệ thống ngược: Có uy tín vì có quyền thay vì uy tín tạo ra quyền lực; Giỏi vì có bằng cấp thay vì có nhiều cống hiến cho xã hội; Có lẽ phải vì là lãnh đạo thay vì trở thành lãnh đạo vì mình đúng đắn... (Thẳng Thắn Thật Thà Thường Thua Thiệt, Lọc Lừa Lươn Lẹo Lại Lên Lon). Nếu ai đó muốn nổi tiếng, hay trả lại “sự thật, công lý” trong các ấn bản phẩm thì tôi thấy có nhiều đề tài tầm cỡ, xứng đáng hơn nhiều. Sao không tìm “sự thật” trong văn thơ bốc thơm, trơ trẽn của TH, trong nhật ký của bác Trần Dân Tiên, trong đời tư còn đầy bí ẩn, li kì của Chủ tịch vĩ đại, hay trong vô số sách lịch sử đã bị xào xáo cho phù hợp khẩu vị một số người... Hay có lẽ cũng biết rõ không nên phản biện với cái còng, nổi tiếng trong nhà đá thì chẳng có ai tung hô... nên rỉa róc chuyện rong chơi của một con nhóc là dễ và an toàn nhất... Một quan chức Công an ta từng nói: Phản biện hả, Phản biện là phản động, chúng tôi có đủ cách đối phó không hề thua kém ai... Ts. Hà Huy Khoái, nguyên Viện trưởng Viện Toán học từng nhận xét chí lí: "Việt Nam làm gì có Khoa học xã hội, tất cả đã bị gói gọn bởi tư tưởng Mác-Lênin"... Ai đó mà tài giỏi phán xử được những người có trách nhiệm hay lành mạnh, trong sạch hóa cỗ máy thông tin, tuyên truyền thì dân Việt hưởng đại phúc.
Nói về tấm gương, tính âm dương, hai mặt tốt xấu luôn thường trực trong mọi phạm trù, tùy người nhìn nhận, khai thác nó. Anh ca ngợi Bill Gates, tôi bảo xấu vì ông ấy bỏ học, khó tính, hay chê bai người khác. Steve Jobs: bỏ học, tuần tắm 1 lần, rất lập dị, cũng xấu! v.v. Sự ồn ào, khoe khoang của một số người Việt, một mặt thỏa mãn cái tôi, động lực phấn đấu cho nhiều người, nhưng mặt khác đã cổ xúy, đề cao, lan truyền lối sống vật chất, phù phiếm, bề ngoài giả tạo, nông cạn, thói sĩ diện, “nổ”, đang là căn bệnh mãn tính của người Việt Nam. Stephen Hawking, khoa học gia lỗi lạc về vũ trụ thiên văn, đã đúc kết: Đừng tìm kiếm sự hoàn hảo, bởi đơn giản là nó không tồn tại!
Ta vẫn thấy có những hiện tượng, nhân vật xuất chúng trong nhiều lĩnh vực nhưng khởi đầu, tuổi thơ lại chẳng có gì ấn tượng! Hay học cái này nhưng sau lại tỏa sáng ở cái khác chả liên quan gì! Ở đây, nếu ta cứ cố gắng phân tích, suy luận kiểu lý trí để tìm lời giải đáp thì thường đi vào ngõ cụt, mọi lý lẽ đều có vẻ không ổn. Ví dụ, sao cái ông B. Gates, Honda bằng cấp chẳng có mà lại giỏi thế? Sao thày giáo dạy sử Võ Nguyên Giáp lại có thể trở thành thiên tài quân sự? Sao cái cô Chip đang học giỏi, có tương lai thế, hay đang làm công việc ngon thế, bao người mơ chẳng được tự dưng lại bỏ ngang lang thang?! Trông như cái kẹo ấy mà đòi chu du! Tôi đầy tiền, chơi tennis, thể hình, bồi dưỡng các kiểu, chỉ loanh quanh ở đây, thế mà có thoát được ốm đau đâu. Chắc có đại gia, đại điên nào đó chu cấp thì ai mà chả làm được... Điên!? Hỏng!? Phét! PR? hay độc miệng hơn (kiểu VN): Nhà vô phúc!
Nhưng phương Đông có cách lí giải tuy siêu hình, thần bí nhưng thỏa đáng: Đó là ĐỊNH MỆNH của người đó là vậy! Vâng, Thuyết Định mệnh. Dù thế nào thì tất cả vẫn cảm thấy có tồn tại một sức mạnh siêu nhiên nào đó chi phối cuộc đời chúng ta. Vì thế, cùng khả năng, nhưng có người làm được những việc lớn lao, có người chỉ ngồi nhà gặm nhấm những giấc mơ và tin rằng, mình không làm được thì không ai làm được, vì “nó” có hơn gì mình đâu. Đơn giản là làm theo tiếng gọi của đam mê, tiếng gọi của Định mệnh, cứ xốc tới... và điều kỳ diệu, phi thường xuất hiện. Khát khao, say mê, sức sáng tạo hay gì đó thuộc về tinh thần, đều là sức mạnh mà Đấng Tạo hóa ban tặng cho ai Ngài thấy thích hợp. Nó không nhân bản, copy được, không mua bán, học theo được, không mượn được…
Nếu sau này em thích, anh thấy em hoàn toàn có thể mở dịch vụ tổ chức tour du lich chuyên khám phá thiên nhiên hoang dã châu Phi (Safari - loại hình này còn mới lạ nhưng chắc sẽ đầy hấp dẫn với dân ta).
Thư cũng đã dài, nên để kết thúc anh dành chỗ xin hỏi em một chút. Anh luôn ao ước đi thăm một chuyến Ân Độ, Nepal tầm 1 tháng gì đó, anh không thích tour mà định xin visa để tự đi. Tiền bạc, ăn ở trọ không lo. Nếu em có thời gian thì cung cấp cho anh một số thông tin về thủ tục Visa cho khách lẻ, nên đi theo lộ trình thế nào, nên thăm những đâu, các phương thức thanh toán, đổi tiền, các trở ngại v.v... vì anh biết Ấn Độ rất mênh mông...
Và để kết thúc, anh có lời khuyên là sau này có đi dài ngày nữa, nên chuẩn bị hành trang chuyên nghiệp hơn. Vì theo như trong sách, hình như không thấy Chip nói đến bao giờ các đồ dùng mà dân Tây ai cũng mang: túi ngủ, thuốc men, đồ sơ cứu, chống muỗi, thiết bị (device) an ninh như bình xịt cay (cái này có kể), báo động phát tiếng kêu lớn, v.v. Qủa thật, cuốn sách một phần hấp dẫn cũng là bởi người ta muốn biết làm thế nào một cô bé không chút kinh nghiệm bên ngoài, tài chính eo hẹp, chuẩn bị sơ xài lại có thể đi qua hàng chục quốc gia, trong đó có quốc gia được coi là nguy hiểm khi du lịch, trở về bình an. Nếu một lính Mỹ hay một nhà thám hiểm thâm niên, trang bị tận răng thì chắc không ai để ý. Đó chính là tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn”, dám thực hiện ước mơ, phá vỡ sự tẻ nhạt, quy luật nhàm chán của đời người. Danh họa Bùi Xuân Phái hay nói: “Sư tử chỉ đi một mình”. Bản lĩnh, tháo vát, đồng ý, nhưng nhìn ở góc độ nhân văn, chuyên nghiệp, thì điều đó rất nguy hiểm cho bản thân, bởi có thể hóa thành nỗi đau cho gia đình, bạn bè…
Phần lớn những nơi em qua đều là các nước đang phát triển, nghèo, luật pháp lỏng, tình người chan hòa (Africa vẫn được người Âu gọi là châu lục của Tuyệt vọng-The Desperate Continent). Nhưng châu Âu thì lại là một câu chuyện khác. Chặt chẽ, nguyên tắc, dân nhập cư bất hợp pháp Á, Phi rất nhiều, phức tạp, nếu không có giấy tờ hợp lệ mà bị cảnh sát hỏi là bị giữ (đôi khi gặp may cũng xin được) để trục xuất (Đức, Bỉ vài tháng, Pháp thì tối đa 2 tuần, nếu không trục được họ lại thả, nhiều trường hợp bắt, thả cả chục lần), nhưng lại có nhiều tổ chức từ thiện, phi chính phủ trợ giúp… Tây Âu rất tôn trọng quyền con người, luật pháp thế, nhưng trước cổng hay trong các nơi do các tổ chức từ thiện quản lý đầy dân nhập lậu, không bao giờ họ hỏi…
Cuối thư, anh chúc em sớm đạt được những kế hoạch tiếp theo, và luôn là Chip tóc xù như trong câu chuyện còn đang dang dở./.
 
Trịnh Quang Thắng
(thangtrinhquang@yahoo.com)

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).