Thursday, 9 January 2014

Thử lý giải việc tiếp tục bình ổn vàng của Ngân hàng Nhà nước (Bài đăng trên TBKTSG số ngày 9/1/2014, bản gốc)


Bất chấp giá vàng thế giới tụt giảm liên tục xuống những kỷ lục mới trong suốt phần lớn năm 2013, kéo theo giá vàng trong nước cũng nhu cầu về vàng của thị trường trong nước cũng đứng ở mức thấp, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn tiếp tục tung vàng ra đấu thầu như hiện nay. Thoạt đầu, việc đấu thầu vàng bắt đầu từ cuối tháng 3 năm 2013 được làm cho hiểu là một hành động giúp hệ thống ngân hàng tất toán vàng vay mượn từ dân chúng. Tuy vậy, sau thời điểm đến hạn tất toán hồi tháng 6, NHNN vẫn tiếp tục cho đấu thầu vàng với mục đích, theo tuyên bố của họ, là để bình ổn thị trường vàng.
Đáng chú ý là trong suốt nửa năm sau 2013, thị trường vàng đã hầu như vắng bóng các cơn sốt vàng đi kèm với giá vàng trong và ngoài nước có xu hướng suy yếu (mặc dù chênh lệch giá vàng trong và ngoài nước thì hầu như không được thu hẹp, nếu không muốn nói ngược lại). Trong bối cảnh này, rõ ràng việc “bình ổn” của NHNN trở nên hoàn toàn không cần thiết. Bởi vậy, một câu hỏi được đặt ra là tại sao NHNN lại vẫn tiếp tục cho đấu thầu vàng cho đến tận bây giờ (và rất có thể sẽ còn kéo dài sang những tháng tới)?
Có thể nói ngay, việc NHNN liên tục đi nhập khẩu vàng về để đấu thầu chắc chắn có liên quan đến luồng ngoại tệ dồi dào đã và đang chảy vào Việt Nam. Theo các báo cáo của các cơ quan chủ quản, cán cân vãng lai và thanh toán của Việt Nam đang và sẽ ở mức thặng dư lớn, hàng tỷ đô la, có được nhờ nguồn kiều hối và FDI ở mức cao so với các năm trước, trong khi xuất khẩu tăng trưởng mạnh hơn nhập khẩu, chưa kể các các nguồn vay nợ và viện trợ vẫn đang chảy vào nền kinh tế. Nếu không có nguồn ngoại tệ lớn này, NHNN chắc chắn sẽ không có đủ tiềm lực để duy trì nhập khẩu và đấu thầu vàng ở quy mô lớn và thời gian kéo dài như vậy, nếu không muốn làm suy kiệt quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia.

Thông thường, khi nguồn ngoại tệ chảy mạnh vào nền kinh tế của một quốc gia, nước đó sẽ phải mua vào ngoại tệ, tung bản tệ ra để ngăn không cho bản tệ lên giá, ảnh hưởng đến xuất khẩu. Việt Nam cũng đã phải theo con đường này trong năm nay, với tuyên bố của NHNN đã mua vào ngoại tệ làm tăng mạnh quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia, trong khi, không như mọi năm, tỷ giá rất ổn định, thậm chí có nhiều thời điểm còn giảm đi (tiền đồng lên giá). Việc này có một hiệu ứng không mong muốn là làm tăng áp lực lạm phát do cung tiền đã tăng lên. Để khắc phục tác động tiêu cực này, NHNN phải tung tín phiếu ra để hút bớt tiền về (ngoài việc nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, một công cụ ít khi được sử dụng).
Nhưng năm 2013 là năm khá đặc biệt, với hiện tượng vàng không còn là một tài sản được ưa thích nhiều trên thế giới và cả ở Việt Nam nữa. Tuy vậy, do NHNN đang nắm độc quyền nhập khẩu vàng và, do đó, trở thành nguồn cung độc quyền vàng ra thị trường trong nước, giá vàng trong nước và thế giới vẫn đã và đang có một khoảng cách lớn, lên tới vài triệu đồng/lượng. Trong bối cảnh như vậy, NHNN rất có thể đã biết lợi dụng cơ chế đặc biệt này để phục vụ mục đích chính sách tiền tệ của mình một cách có lợi nhất, theo kiểu một mũi tên trúng nhiều đích.

Cụ thể, có thể NHNN đã tính rằng, việc tung tín phiếu ra để hút tiền đồng về vừa không phải là không tốn kém vì phải trả lãi, vừa không phải là đơn giản, vì nếu lãi suất tín phiếu quá thấp, không hấp dẫn được các ngân hàng thương mại thì NHNN, nếu không muốn dùng đến mệnh lệnh hành chính bắt buộc các ngân hàng thương mại phải mua tín phiếu, phải nâng lãi suất tín phiếu lên, làm cho chi phí từ kênh chính sách này càng lớn, trong khi hiệu ứng phụ của nó là làm tăng lãi suất trong nền kinh tế, đồng thời lại cạnh tranh với trái phiếu Chính phủ v.v...
Trong khi đó, nếu dùng một phần ngoại tệ đã mua được để nhập khẩu vàng về, bán lại trong nước với giá (quy đổi) cao hơn giá nhập khẩu, NHNN một mặt vẫn đạt được mục tiêu là hút bớt tiền đồng về, mặt khác, không những không phải trả lãi một đồng nào như đối với trường hợp can thiệp thông qua kênh tín phiếu, mà còn thu lãi lớn qua kênh nhập khẩu và đấu thầu vàng do chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước với giá quốc tế.

Ngoài lợi ích về chi phí, đấu thầu vàng của NHNN còn có một số tác dụng không nhỏ, chủ yếu ở mặt tâm lý, khi chứng tỏ cho thị trường thấy thái độ cứng rắn của NHNN, theo kiểu nói là làm và sẽ làm được, để từ nay về sau thị trường đừng có dại mà không tin vào tuyên bố và lập trường của NHNN. Giới đầu cơ vàng chắc sẽ còn lâu mới có thể gượng dậy được khi thị trường vàng liên tục bị đánh xuống với các đợt đấu thầu, và giá vàng thì, có phần trùng hợp, cũng liên tục đi xuống, chẳng còn thấy đâu cơ hội để mà đầu cơ chờ giá lên nữa, đúng như ý đồ của NHNN muốn “dẹp” thị trường vàng như một kênh gây bất ổn kinh tế vĩ mô trong nhiều năm qua.
Nếu lý giải trên là đúng thì ta sẽ có ngay câu trả lời cho câu hỏi tiếp theo được đặt ra là, bao giờ NHNN sẽ ngừng đấu thầu vàng? Cho dù có muốn tiếp tục thì NHNN cũng sẽ phải ngừng đấu thầu vàng khi nguồn ngoại tệ đổ vào không còn dồi dào nữa (có thể xảy ra với việc chấm dứt các gói nới lỏng định lượng của các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới, nhất là của Mỹ). Hoặc việc này sẽ xảy ra khi các hoạt động trong nền kinh tế thực được tăng tốc, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, và, do đó, lôi cuốn nguồn tiền đồng dư thừa trước đó. Khả năng khác, không phải là khả năng cuối cùng, là khi NHNN thực sự muốn bình ổn thị trường vàng, và đây là mục đích chính, nhưng nhận ra rằng thực ra hành động đấu thầu vàng không có tác dụng bình ổn gì cả, ngoài cơ may là thị trường vàng xuống dốc như vừa qua (chứ không phải bình ổn như chủ ý của NHNN) hoàn toàn nhờ yếu tố bên ngoài, chứ không phải nhờ hành động đấu thầu vàng của NHNN. Nếu giá vàng thế giới mà đảo ngược và duy trì như vậy trong một thời gian tới, đặc biệt nếu đi kèm với dấu hiệu căng thẳng ngoại tệ, chắc chắn NHNN sẽ phải cân nhắc lại hai lần trước khi tiếp tục duy trì đấu thầu vàng.

 

 

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).