Wednesday 12 February 2014

Làm ngược! (Bài đăng trên TBKTSG ngày 13/2/2014, bản gốc)

Sang năm 2014, thông điệp của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn là giữ ổn định tỷ giá (biến động không quá 2 điểm phần trăm), lạm phát trong khoảng 6%-7% (không đổi so với năm 2013), và có thể hạ lãi suất thêm 1, 2 điểm phần trăm.

Điều đáng chú ý ở đây là quy trình làm chính sách ngược, nếu có thể nói vậy, của NHNN. Thông thường, lãi suất và tỷ giá tiền đồng tất cả đều phụ thuộc phần lớn vào mức lạm phát ở Việt Nam. Và đến lượt nó, lạm phát lại phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của NHNN nới lỏng hay thắt chặt hơn. Bởi vậy, trước khi có thể hạ lãi suất, ổn định tỷ giá thì lạm phát phải được khống chế và hạ đi một vài điểm phần trăm so với mức hiện tại. Điều này có thể thực hiện được bằng cách thắt chặt thêm chính sách tiền tệ của NHNN, tức giảm bớt tốc độ tăng cung tiền.
Nay, trong cách làm hiện tại của NHNN, dường như cung tiền với lãi suất và tỷ giá chẳng có mấy liên quan, còn lạm phát cứ như là một yếu tố khách quan (ngoài tầm với, tầm can thiệp của NHNN), và NHNN thụ động ngồi chờ, nếu giảm thì mới cắt giảm lãi suất. Hoặc giả lãi suất là một yếu tố phi thị trường, NHNN thích cắt giảm, muốn cắt giảm thì cứ thế mà “ra lệnh” cho thị trường phải cắt giảm, và sẽ thành công.

Cách tư duy ngược này, hy vọng trên thực tế không phải là vậy, chắc chắn sẽ còn làm cho nền kinh tế tiếp tục bị rối loạn bởi các mệnh lệnh hành chính, phi thị trường, ví dụ quy định trần lãi suất, sự “quyết liệt vào cuộc” ổn định tỷ giá bằng các biện pháp rắn và hành chính, có công an tham gia; có sự tố cáo lẫn nhau trong nội bộ hệ thống ngân hàng với một ngân hàng nào đó mua đô la hoặc huy động/cho vay với lãi suất vượt trần... trong khi nền tảng cơ bản giữ ổn định cho cả hệ thống tài chính là chính sách tiền tệ mà cụ thể là cung tiền không được phân tích, mổ xẻ thấu đáo làm cơ sở cho mọi quyết định về và phương hướng diễn biến của lạm phát, lãi suất, tỷ giá ở Việt Nam.
Từ phân tích cơ bản nói trên có thể thấy, triển vọng có hạ được lãi suất và ổn định tỷ giá được hay không phần lớn sẽ phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của NHNN, mà cụ thể là tăng trưởng cung tiền ở mức bao nhiêu phần trăm. Nhưng cần lưu ý rằng NHNN tuy là chủ thể thực hiện chính sách tiền tệ nhưng yếu tố chi phối chính đối với chính sách tiền tệ của NHNN chính là mục tiêu tăng trưởng GDP của Chính phủ. Một khi mục tiêu tăng trưởng GDP vẫn ở mức tham vọng và được Chính phủ “quyết liệt vào cuộc” ráo riết thực hiện thì chính sách tiền tệ của NHNN không thể tránh khỏi phải nới rộng thêm so với mức thận trọng cần có, từ đó có thể làm lung lay nền tảng cho lãi suất và tỷ giá ổn định, buộc NHNN phải viện đến các giải pháp phi kinh tế như đã nói ở trên.

Tất nhiên là tác động đến lạm phát và tỷ giá còn nhiều yếu tố khác, nhưng những yếu tố như tổng cầu vẫn còn yếu hay sự quản lý giá cả bằng các biện pháp hành chính...  sẽ chỉ có tác dụng phần nào góp phần thực hiện được các mục tiêu đặt ra cho năm 2014 của NHNN, nhưng không thể lạm dụng chúng mãi được.

No comments:

Post a Comment

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).