Friday, 7 February 2014

Tập làm văn (phần 4) - Thời thổ tả

Hình như có lần hắn kể rằng hắn nộp đơn thi Đại học An ninh chỉ vì mục đích được bắt nạt thiên hạ chứ không để thiên hạ bắt nạt hắn, nhưng rồi bị loại ngay từ vòng sơ tuyển bởi nhẹ cân thì phải nhỉ. Nhưng hắn nhớ nhầm, hóa ra không phải vậy (vì hồi đó tuy hắn có gầy tí chút nhưng với bộ khung xương của hắn chắc cũng phải nặng hơn khối thằng khác của cái dân tộc vốn đa phần đói ăn, suy dinh dường từ trong bụng mẹ này).

Hôm rồi về ăn Tết với gia đình, ngồi cùng nhau ôn nghèo kể khổ, hắn mới nhớ lại hắn bị loại vì vấn đề lý lịch. Ông anh hắn hồi đó cũng từng nộp hồ sơ thi Đại học Hàng hải và cũng bị loại ngay từ vòng sơ tuyển. Chuyện chưa dừng lại ở đó, mà còn xảy ra thê thảm hơn với thế hệ của bố hắn.

Mọi chuyện mới vỡ lở ra nhân một lần bố hắn “lấy” được bộ hồ sơ cá nhân mà Phòng Tổ chức  của công ty bố hắn (Công ty Gang thép Thái Nguyên) đang giữ. Hồ sơ dán kín với dấu tuyệt mật đỏ choét bên ngoài. Bố hắn tò mò, thắng nỗi sợ hãi, mở ra xem và chết đứng với những dòng chữ vô cảm nhưng tàn nhẫn với một cuộc đời ba chìm bảy nổi như bố hắn. Tuy đã đốt bộ hồ sơ khá lâu như để gắng quên một nỗi đau, nỗi thù, nỗi hận những kẻ đê tiện đã làm hại đời mình, nhưng bố hắn vẫn còn nhớ gần như in mấy dòng chữ đó, đại loại:

Đồng chí Đ. (tức bố hắn) mẹ (tức bà nội hắn) là tiểu tư sản (nhà mặt phố Cát Dài, nên buôn bán gì đó), có bố (tức ông nội của hắn) làm cho (cái gì đó) của Pháp (thực ra ông nội hắn giỏi tiếng Pháp, đi làm chân nhân viên, hay thư ký gì đó cho một công ty Pháp), có anh rể (tức bác rể của hắn) làm cảnh sát (tức một cái chân cảnh binh gì đó thời Pháp thuộc), có anh rể nữa (tức một ông bác rể khác) thì làm tư sản bóc lột (vì có một cái máy in roneo, thuê 2 nhân công, còn bản thân cũng làm hùng hục như chó ấy, chứ có khác gì), có chị gái (tức bác ruột hắn) di cư vào Sài Gòn. Đề nghị cơ quan khi sử dụng đồng chí Đ. phải hết sức thận trọng!

Ký tên: Công an Thành phố Hải Phòng

Là lá la la! Thế là xong một cuộc đời!

Bố hắn là một người thông minh, thi đỗ vào Đại học Bách khoa khóa 2 thì phải. Vì lúc đó mới có Nhà máy Gang thép Thái Nguyên nên bố hắn “thức thời”, xin học Khoa Luyện kim, với suy nghĩ rằng đó là ngành “thời thượng”, kiểu như ngành dầu khí một hai chục năm về trước hay ngành lái tầu ngầm hoặc điện nguyên tử như bây giờ ấy mà (là hắn cứ suy ra thế thôi, chứ chẳng biết có phải những ngành này là thời thượng hay không). Và cũng rất vinh dự được học cùng với một số đồng chí sinh viên dạng “cử tuyển” dốt hơn bò (giải thích cho các đồng chí trẻ: cử tuyển tức là không cần phải thi, được đảng cử đi học. Thảo nào...!!!), trong đó có cả đồng chí Phạm Thế D. mà sau này làm to vãi (từ đi mượn).

Điều lạ là bố hắn đi học không được học bổng và chế độ gì cả. Năm đầu và (hình như) năm thứ hai như vậy, những năm sau thì khá hơn là có một chút học bổng, và đến năm cuối mới được toàn phần. Đói đến mức độ bố hắn suýt bỏ học mấy lần, phải ra cảng Phà Đen làm bốc vác lấy tiền ăn, và thỉnh thoảng chạy đến nhà bà chị cả (tức bác cả của hắn) ăn ké. May mà bác cả của hắn là đảng viên kỳ cựu nên cũng có địa vị và đủ cơm để cho thằng em đến ăn ké. Còn lúc đó thì nhà bố hắn ở Hải Phòng đã sa sút lắm rồi sau cái chết sớm của ông nội hắn, còn bà hắn thì đã già và thời thế làm cho kiệt quệ, không buôn bán gì được nữa.

Rồi bố hắn cũng ra trường, được phân công lên Gang Thép Thái Nguyên, chôn vùi cuộc đời ở đó đến hơn 10 năm, sau mới được bà chị ruột lạm dụng sức mạnh của đảng lôi tuột một phát từ Thái Nguyên về làm người Thủ đô. Cái lý lịch đó, mà công ty lấy từ công an địa phương, là vòng kim cô chụp lên đầu bố hắn để đến nỗi tuổi trẻ lúc đó hừng hực khí thế cách mạng do được tảy não lẫn nhồi sọ, phấn đấu các kiểu mà không được vào đoàn, chưa nói đến vào đảng. 10 năm trời cống hiến, với một kỹ sư trẻ học hành tử tế, có năng lực, con đường hoạn lộ lẽ ra phải thênh thang vậy mà kết cục là số 0 khi về đến Hà Nội. Thuyên chuyển qua một đôi nơi, đến cuối đời (sau 3 năm ở Tiệp lao động khổ sai để có tiền nuôi vợ con), chức vụ cao nhất chỉ là trưởng phòng của một cái trường dạy nghề.

Rồi đến cô ruột hắn. Cô cũng thông minh, học giỏi, thi phát năm đầu đỗ ngay trường Y Hà Nội hay Hải Phòng gì đó, nhưng không nhận được giấy báo đỗ thì phải. Cậy cục nhờ người lên hỏi “trển” thì mới vỡ lẽ ra là vì lý lịch “có vấn đề” nên không được học Y (chắc sợ học xong, là thành phần xấu nên sẽ có thiên hướng giết bệnh nhân chăng?). Thế là cô hắn đành gạt nước mắt, gác lại giấc mơ làm thầy thuốc, đi làm bốc vác cho Nhà máy Xi măng Hải Phòng để lấy tiền sống, năm sau quyết tâm theo đuổi giấc mơ đại học nhưng là Đại học Nông nghiệp, khoa Thú Y, vì cho rằng chắc người ta không đến nỗi nghĩ rằng mình sẽ can tâm đầu độc các con vật mình chữa trị như với người.

Rồi đến anh hắn. Cũng thông minh, học hành tài tử, ôm mộng làm giàu, theo trào lưu thời thượng lúc đó là được đi tầu Vosco (giải thích với các đồng chí chưa biết rằng Vosco là tên của một công ty vận tải viễn dương của VN cực kỳ nổi tiếng và sáng giá hồi đó; thủy thủ của tầu được các em gái săn đón như kiểu đại gia bây giờ) để được khuân về đồ bãi của Nhật đặng làm giàu, nên nộp hồ sơ thi vào trường Hàng hải. Nhưng cũng như hắn, hồ sơ bị loại ngay từ vòng sơ tuyển vì công an địa phương chỉ rõ rằng nhà hắn có một bà bác đang sống ở Bỉ (chính là người bác ruột di cư vào Sài Gòn, sau được con gái bảo lãnh cả gia đình sang Bỉ sống). Chắc công an “khuyến nghị” rằng nếu đỗ và đi làm nghề đi tầu viễn dương thì ông anh sẽ lái tầu trực chỉ Bỉ thẳng tiến xin tị nạn, mất cả tầu lẫn hàng chăng?

Rồi tất nhiên là đến đời hắn, với cái lý lịch trên thì đương nhiên là phải từ bỏ giấc mộng làm chiến sĩ an ninh, ngày đêm canh gác giữ gìn an ninh cho đảng. Hắn đành phải chuyển sang nghiệp viết như thế này mà lòng dạ lúc nào cũng bùi ngùi, thương cảm cho cuộc đời của bố hắn mỗi khi nhớ lại. Cũng không biết có phải vì cái lý lịch “hoen ố” này hay không mà hắn tuy đã nhảy việc đến chục nơi trong nước trước khi lang thang nước ngoài, kể cả Ngân hàng Nhà nước, mà không nơi nào “mời” hắn cho dù là đi học “cảm tình đảng”. Đảng viên thì đương nhiên là một danh hiệu quá cao quý và xa vời với hắn rồi, không thể mơ tới được. Cay cú quá nên sau này, mỗi khi thấy có bạn trẻ nào đó được kết nạp đảng, hắn lại nhắc nhở, cẩn thận nhé không thì sau này phải mất 3 cây vàng để “chạy” ra khỏi đảng đấy.

Cái nghiệp trướng của hắn và gia đình hắn chưa dừng ở đó. Khi gần ra trường, đến ngày hẹn đến trường để lấy bằng, hắn mới té ngửa ra là bằng đại học của hắn bị bên an ninh gửi công văn về trường yêu cầu trường hủy đi vì can tội làm gián điệp. Rồi thậm chí sau đó, qua một số biến cố, hắn còn có vinh dự được một đồng chí cấp cực cao trong ngành an ninh chỉ thẳng vào mặt thề rằng sẽ không cho hắn (và cả anh hắn) ngóc đầu lên được.

Lại Là lá la la!

(Disclaimer: Chuyện không nhất thiết là sự thật, chỉ là chuyện chép lại, tác giả không chịu bất cứ trách nhiệm gì)

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).