Friday, 28 March 2014

Tiếp chủ đề bẫy thu nhập trung bình: Sửa lại cho đồng chí GS Trần Thọ Đạt một chút


Tại bài này, đồng chí Đạt nói có mấy cái sai về bẫy thu nhập trung bình ở Việt Nam.
Thứ nhất, đồng chí Đạt nói: “Áp dụng công thức tính toán, chúng tôi tính được rằng để Việt Nam nâng cao thu nhập gấp đôi trong vòng 10 năm thì tăng trưởng phải đạt 7,2%/năm. Nhưng những năm vừa qua kinh tế nước ta chỉ tăng trưởng trung bình 5,5%, đây là mức tăng khá thấp so với tốc độ cần thiết để sau 10 năm gia tăng thu nhập bình quân đầu người lên gấp đôi.

Tính toán trên là tính toán đơn giản (compound annual growth rate, CAGR), có thể dễ dàng thực hiện trên excel bằng một phép tính; và đúng là để cho một đại lượng gì đó tăng lên gấp đôi trong 10 năm thì đại lượng đó cần phải tăng trưởng trung bình mỗi năm gần 7,2%. Rất rõ ràng, không có gì là khó hiểu hoặc ghê gớm ở đây cả.
Điều đáng nói là tính toán trên (và của đồng chí Đạt) chỉ đúng cho trường hợp là GDP của Việt Nam, chứ không phải là GDP/đầu người của Việt Nam. Vì cái thứ 2 còn có thêm đại lượng nữa là tăng trưởng dân số. Ở đây, nếu muốn GDP/đầu người tăng gấp 2 lần (lớn gấp đôi) trong 10 năm thì tăng trưởng GDP còn phải cao hơn 7,2%/năm. Giả sử tốc độ tăng dân số mỗi năm của Việt Nam trong 10 năm tới là 1%/năm thì Việt Nam cần phải đạt tăng trưởng GDP là 8,2%/năm.

Không nói thì cũng biết là 7,2%/năm đã là khó, đến 8,2%/năm thì càng khó hơn, và hầu như chẳng có phép mầu nào để đạt được tốc độ tăng trưởng này liên tục trong vòng 10 năm (dù là tính trung bình). Có thể có đồng chí sẽ lấy ví dụ của Trung Quốc tăng trưởng tới 8%-9%/năm trong suốt 2, 3 thập kỷ qua và ngay cả Việt Nam với tốc độ trên 7%/năm trong thập kỷ trước để phản biện lại. Nhưng tớ thì thấy rằng thời đại tăng trưởng nhanh (mà không đổ vỡ, không trả giá sau này) đã qua rồi. Cũng chẳng có bằng chứng gì thuyết phục cho lắm nhưng cứ hình dung con lợn được thúc lớn bằng thuốc tăng trọng nhanh đến nỗi nhiều khi chân nó bị gẫy vì không chịu nổi sức nặng của bản thân và vì chất lượng xương quá yếu không theo kịp đà lớn về thân xác của nó. Tóm lại là “giục tốc bất đạt”, đơn giản thế thôi.
Có lẽ cũng hiểu được thế nên mấy đồng chí Việt Nam mới thôi mơ mộng hão huyền bằng cách đặt mục tiêu tăng trưởng trong các kế hoạch 5 năm và dài hơn ở mức thấp hơn nhiều, mặc dù cũng những con người đó và các đồng chí của họ vốn có những cái đầu rất bốc, rất lạc quan cách mạng.

Thứ hai, đồng chí Đạt nói: “Nhìn chung hiện nay chúng ta đã bước vào nước thu nhập trung bình thấp, nhưng để thoát khỏi ngưỡng thu nhập trung bình thấp thì phải duy trì tốc độ tăng trưởng cao trên 7,2%/năm, trong điều kiện mức tăng trưởng này kéo dài và bền vững. Nếu không nguy cơ Việt Nam vẫn chỉ ở trong nước thu nhập trung bình thấp là hiện hữu và nguy cơ ấy rất cao.
Đoạn trích trên không nói rõ là Việt Nam cần phải tăng trưởng 7,2%/năm trong bao năm, nhưng kết hợp với đoạn trích đầu tiên thì có thể hiểu là đồng chí Đạt muốn nói đến quãng thời gian 10 năm. Không hiểu tại sao đồng chí Đạt lại đặt ra mục tiêu phải tăng trưởng thu nhập gấp đôi trong vòng 10 năm nữa (hiện đang ở mức gần 2.000 USD/người  lên 4.000). Phải chăng đồng chí muốn nói là khi thu nhập đầu người đạt 4.000 USD, tức mức trung bình cao, sẽ đồng nghĩa là Việt Nam đã thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình vì đã lọt vào nhóm thu nhập trung bình cao?

Nếu đúng thế thì nhầm, cả về khái niệm lẫn kỹ thuật. Về khái niệm, bẫy thu nhập trung bình xảy ra khi một nền kinh tế vốn có tốc độ tăng trưởng cao bị mắc kẹt mãi ở nhóm các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình mà không thể (khó) dần tiệm cận đến nhóm nền kinh tế có thu nhập cao hơn được. Tất nhiên khi đó thì tăng trưởng GDP của nước này sẽ bằng hoặc nhỏ hơn tăng trưởng GDP của nhóm nước thu nhập cao, làm cho cự ly cách biệt về thu nhập giữa 2 nhóm không thay đổi hoặc thậm chí còn doãng rộng theo thời gian.
Như vậy, về khái niệm, tăng trưởng ở mức bao nhiêu (ở đây là 7,2% như mong muốn) không quan trọng bằng việc duy trì được tăng trưởng lớn hơn nhóm nước so sánh là đủ để Việt Nam dần tiệm tiến đến nhóm nước có thu nhập cao, tức là không bị vướng vào bẫy thu nhập trung bình. Giả thiết là các nước thuộc nhóm thu nhập cao có tốc độ tăng trưởng là 3%, 4%/năm trong 10 năm tới. Lúc đó thì chỉ cần Việt Nam tăng trưởng với tốc độ như hiện tại, 5%-6%/năm là thừa đủ để xóa dần cự ly về thu nhập với nhóm có thu nhập cao này (còn để xóa hết thì phải mất đến nhiều chục năm, kể cả với tốc độ tăng trưởng cao hơn!).

Về mặt kỹ thuật, cái ngưỡng 4000 hoặc 11000 trong định nghĩa của đồng chí Đạt chỉ đúng với hiện tại, chứ không còn đúng với tương lai. Với sự có mặt của lạm phát của USD thì 4000 hay 11000 USD hiện nay sẽ không bằng chính chúng về giá trị (sức mua) trong 5, 10, 20 năm nữa. Lúc đó, ngưỡng thu nhập trung bình cao phải là, ví dụ, 11000, 14000 và 18000. Như thế, ngay cả khi Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng GDP đầu người 7,2%/năm như đồng chí Đạt mong muốn thì cũng không thể đạt được ngưỡng thu nhập khởi điểm của nhóm trung bình cao trong 10 năm nữa, mà phải là một con số lớn hơn, tỷ như 12 năm.
Nói lằng nhằng thế để tóm lại rằng con số 7,2% và 10 năm mà đồng chí Đạt đưa ra chẳng có ý nghĩa, chẳng ăn nhập gì ở đây cả.

Thứ ba, trong đoạn trích thứ 2 dường như đồng chí Đạt đánh đồng giữa bẫy thu nhập trung bình với (mức) thu nhập trung bình thấp. Nếu đúng vậy thì cũng là một nhầm lẫn. Như đã nói, chừng nào tăng trưởng của Việt Nam vẫn lớn hơn tăng trưởng của nhóm nước thu nhập cao thì Việt Nam vẫn (nên/cần) được cho là không bị vướng vào bẫy thu nhập trung bình (chứ không có khái niệm “bẫy thu nhập trung bình thấp” hay “bẫy thu nhập trung bình cao”). Ngược lại, cho dù có tăng trưởng nhanh chóng (ở mức 7,2% như đồng chí Đạt muốn) để lọt vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao và/nhưng sau đó tăng trưởng lại tụt giảm xuống dưới mức của nhóm thu nhập cao thì Việt Nam vẫn cứ bị vướng vào bẫy thu nhập trung bình. Nói cách khác, tăng trưởng bao nhiêu (trong vòng một thời gian nhất định, ở đây là 10 năm như đồng chí Đạt muốn) để thoát khỏi nhóm nước thu nhập trung bình thấp không phải là điều kiện cần/đủ để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình (không có “thấp” hay “cao”).
Còn tất nhiên nếu đạt được tốc độ tăng trưởng đâu đó trên 7%/năm trong thời hạn không xác định (vài chục năm) thì là quá tốt rồi, đủ để Việt Nam thoát khỏi hầu như mọi cái bẫy! Nhưng, lại như đã nêu ở phần đầu, vấn đề là liệu tốc độ tăng trưởng trên 7% sẽ được duy trì trong bao lâu?

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).