Thursday, 24 April 2014

Những lợi ích của bỏ trần lãi suất huy động (Bài đăng trên TBKTSG, 24/4/2014, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/113935/

Trần lãi suất huy động (và cho vay) thực chất là một công cụ hành chính được sử dụng nhằm giữ cho mặt bằng lãi suất của nền kinh tế ở mức thấp, có lợi cho giới đi vay và đầu tư, với hy vọng là sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm thất nghiệp. Đồng thời, với những nền kinh tế vướng vào nợ nần ở mức trầm trọng, lãi suất được chủ ý giữ ở mức thấp sẽ giúp cho Chính phủ và các con nợ (chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước, DNNN) có thể dùng nợ (mới) nuôi nợ (cũ) trong một thời gian dài hơn (tức kéo dài thời gian mà nền kinh tế có thể chịu đựng được khi nợ liên tục tăng đến một mức nguy hiểm nào đó). Đương nhiên, các Chính phủ cũng có xu hướng ưa thích dùng trần lãi suất huy động vì nhờ nó Chính phủ có thể huy động vốn với giá rẻ để tài trợ cho các chi tiêu của mình trong bối cảnh lãi suất huy động cũng bị áp đặt ở mức thấp hơn mức cần có từ tình hình cung cầu vốn thực tế trên thị trường nhưng người có tiền gửi tiết kiệm cũng không còn lựa chọn nào khác.

Tuy vậy, rốt cuộc rồi thì, đến một thời điểm nào đó, các Chính phủ cũng phải tính đến chuyện triệt thoái trần lãi suất. Trong khu vực và gần đây nhất thì Trung Quốc đã tuyên bố sẽ bãi bỏ trần lãi suất huy động trong vòng 2 năm nữa. Việt Nam cũng có tuyên bố tương tự, nhưng với thời điểm thực hiện sớm hơn thế, ngay trong năm nay.

Bất chấp một số lo ngại mà phái ủng hộ duy trì trần lãi suất ở Việt Nam đưa ra, chủ yếu liên quan đến sự ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam vốn chưa phát triển đầy đủ, cũng như những rủi ro đi kèm như khủng hoảng tín dụng, đổ vỡ hệ thống ngân hàng bắt đầu từ những ngân hàng yếu kém và việc đẩy mạnh cho vay và đầu tư vào những lĩnh vực và doanh nghiệp rủi ro cao v.v..., bãi bỏ trần lãi suất để tự do hóa lãi suất huy động sẽ mang đến nhiều lợi ích to lớn hơn cho cả nền kinh tế mà nhiều người trong số này đã không nhìn ra khi kêu gọi áp trần lãi suất.

Lợi ích thứ nhất, kích thích tiêu dùng. Với nhiều người, có lẽ đây là một nghịch lý. Trong bối cảnh tổng cầu vẫn còn tăng trưởng ở mức thấp hơn kỳ vọng thì người ta hô hào phải hạ lãi suất (cả huy động và cho vay) thấp hơn nữa để kích thích cho vay tiêu dùng và đầu tư. Cách dễ nhất là áp trần lãi suất. Nhưng với trần lãi suất thì lãi suất thực mà người gửi tiền được hưởng thường rất thấp, đôi khi ở mức âm. Do người gửi tiết kiệm sẽ thu được lợi tức nhỏ hơn trong tương lai (thậm chí là bị “lỗ vốn” nếu lãi suất tiền gửi là thực âm) nên họ sẽ có xu hướng cắt giảm chi tiêu tại thời điểm hiện tại để phòng xa cho một tương lai ảm đạm hơn với thu nhập không tăng mạnh hoặc thậm chí giảm đi. Như thế, bù qua sớt lại thì tổng cầu không nhất thiết sẽ tăng (mạnh như kỳ vọng), nên trần lãi suất thực tế có thể sẽ không phát huy tác dụng như người ta mong muốn.

Hơn nữa, áp đặt trần lãi suất huy động thấp một cách cố ý tuy có tác dụng kích thích tăng trưởng danh nghĩa trong ngắn hạn do nó khuyến khích người ta tiêu dùng và vay nợ đầu tư ngay bây giờ thay vì gửi tiết kiệm và tiêu dùng đầu tư trong tương lai, nhưng nó lại làm giảm tăng trưởng trong tương lai khi các khoản nợ đến hạn, buộc nền kinh tế phải cắt giảm tiêu dùng và đầu tư.

Điều đáng bàn là ở Việt Nam, dư luận xã hội dường như có cái nhìn rất khắt khe với quyền lợi của người gửi tiền, cho rằng họ là người có tiền nên cần “chịu thiệt” cho xã hội, cho những người đi vay vốn là những đối tượng “khó khăn” hơn (có “khó khăn” mới phải đi vay tiền!). Bởi vậy, áp trần lãi suất luôn được tán thưởng hơn là bỏ trần lãi suất!

Lợi ích thứ hai từ việc bỏ trần lãi suất là giúp làm giảm đà tăng nợ công, cải thiện chất lượng chi tiêu công. Khi Chính phủ phải cạnh tranh với khu vực tư nhân trong việc huy động vốn cho các chi tiêu của mình với lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ càng cao nếu họ càng đẩy mạnh phát hành thì lúc đó gánh nặng nợ công càng dâng cao, Chính phủ càng chịu nhiều áp lực của dư luận đòi hỏi giảm nợ công, tăng hiệu quả chi tiêu công.

Thứ ba, xóa trần lãi suất sẽ giúp ích cho công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế ở Việt Nam. Với trần lãi suất huy động, các ngân hàng có xu hướng đổ dòng vốn giá rẻ vào các DNNN mà không cần phải bận tâm tìm ra những khách hàng ở các khu vực kinh tế phi nhà nước vốn mang lại lãi suất cho vay cao hơn nhưng cũng có rủi ro nhiều hơn là những DNNN được ngầm định bảo hộ bởi Chính phủ. Nếu trần lãi suất được xóa bỏ và, do đó, làm tăng chi phí vốn, các ngân hàng thương mại sẽ phải tích cực tìm kiếm các khách hàng tốt hơn thuộc khu vực kinh tế tư nhân và nước ngoài để đảm bảo khả năng sinh lãi cho vốn huy động trong khi các DNNN vẫn bê bết vì kinh doanh lẹt đẹt, lỗ nhiều hơn lãi. Quá trình này sẽ hỗ trợ cho sự lớn mạnh của khu vực kinh tế phi nhà nước (vốn đang cần được khuyến khích), và đặt các DNNN vào thế phải tự tái cấu trúc hoặc nâng hiệu quả kinh doanh nếu muốn tồn tại.

Xóa trần lãi suất làm tăng lãi suất cho vay còn thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển từ trạng thái tăng trưởng phụ thuộc quá lớn vào đầu tư (do vốn rẻ) và xuất khẩu sang sự tăng trưởng cân bằng hơn giữa đầu tư/xuất khẩu  và tiêu dùng (do người gửi tiết kiệm có thu nhập từ tiết kiệm cao hơn), làm tăng trưởng mang tính bền vững và ổn định hơn khi thị trường tiêu dùng nội địa được mở rộng.

Thứ tư, xóa trần lãi suất huy động có tác dụng ngăn cản dòng vốn đầu tư đổ vào những lĩnh vực và tài sản dễ gây ra các cơn sốt bong bóng như vàng và bất động sản. Khi lãi suất bị kìm nén bởi trần lãi suất, người có tiền thay vì gửi tiết kiệm lại mang đầu tư vào những tài sản mang tính bảo toàn giá trị tốt hơn này, nhất là trong bối cảnh lạm phát làm lãi suất thực âm còn thị trường chứng khoán thì không hoạt động tốt. Các cơn sốt bất động sản ở Trung Quốc và Việt Nam tạo ra những khu nhà “ma” khổng lồ, làm mắc kẹt một khối lượng tài sản cực lớn không sinh lãi cho nền kinh tế. Hơn nữa, khi giá bất động sản bắt đầu tuột dốc, nhà đầu tư chần chừ không muốn bán, cố giữ và hy vọng giá khôi phục. Điều này có nghĩa là tình trạng trì trệ của thị trường bất động sản nói riêng và nền kinh tế nói chung sẽ còn kéo dài trong nhiều năm vì cung bất động sản ế đọng này sẽ tiếp tục đổ vào thị trường dần dần, làm cho giá không thể phục hồi mạnh được.

Cuối cùng, có một điều cần khẳng định rằng, như Thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc nhấn mạnh khi ông công bố chủ trương tự do hóa lãi suất hồi tháng 3 năm nay, “trong ngắn hạn, tự do hóa lãi suất có thể làm lãi suất tăng lên,... (n)hưng cuối cùng thì lãi suất sẽ được quyết định bởi thị trường”.

 

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).