Thursday, 3 April 2014

Thế khó của Trung Quốc (Bài đăng trên TBKTSG Online, 3/4/2014)

http://www.thesaigontimes.vn/Home/thegioi/hoso/112918/The-kho-cua-Trung-Quoc.html

(TBKTSG Online) - Trung Quốc đang phải đối mặt với thêm nhiều khó khăn và thách thức có khả năng đè bẹp tăng trưởng và gây bất ổn định chính trị, xã hội ở nước này.

Dấu hiệu của những khó khăn và thách thức này nằm ở những con số báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đáng thất vọng của các doanh nghiệp. Trong khi đó, các ngân hàng quốc doanh thì đang phải xử lý các khoản nợ xấu ở quy mô lớn bằng các khoản dự phòng rủi ro, làm tụt giảm lợi nhuận của chúng. Các khoản nợ xấu này chủ yếu phát sinh trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-09 buộc Trung Quốc phải tung ra các gói kích thích kinh tế khổng lồ để vực lại nền kinh tế.

Ngoài ra, các hãng xếp hạng tín nhiệm và các tổ chức tài chính thế giới cũng “đổ thêm dầu vào lửa” khi lần lượt lên tiếng bày tỏ mối quan ngại về quả bom nổ chậm – nợ công địa phương – ở Trung Quốc và thúc giục nước này phải hành động nhanh hơn để xử lý các khoản nợ địa phương phát sinh từ việc các công ty huy động tài chính cho chính quyền địa phương (local government  financing vehicles) vay mượn để lấy vốn rót cho các doanh nghiệp bất động sản, xây dựng hạ tầng, quỹ tín thác.

Những quan ngại nói trên không phải không có cơ sở khi ở Trung Quốc đã và sẽ xảy ra các vụ phá sản ở quy mô lớn. Mới đây, một công ty sản xuất linh kiện pin mặt trời là công ty đầu tiên đã tuyên bố không trả được gốc và lãi cho trái phiếu nội địa của mình. Những lý do đẩy các công ty này vào tình trạng vỡ nợ bao gồm việc thiếu tài sản thế chấp cho các khoản đi vay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 2008-09 và luồng tiền được dự báo quá lạc quan. Trong khi đó, các dự án bất động sản và cơ sở hạ tầng của chính quyền địa phương, nhiều trong số đó đã có tiềm năng lỗ từ ban đầu, lại cần có thời gian hoạt động nhiều năm để mang lại lợi nhuận kỳ vọng, do đó càng làm tăng rủi ro vỡ nợ.
Các nhà quan sát cho rằng Trung Quốc có lẽ khó có thể tránh được một sự đổ vỡ về tài chính nào đó có tác động tiêu cực đến tăng trưởng.

Sau khi ổn định vào năm 2011, nợ địa phương lại tăng mạnh hồi năm 2013 khi Chính phủ Trung Quốc tung ra chiến dịch chi tiêu vào hạ tầng mới nhằm vực lại tăng trưởng đã bị tụt xuống mức thấp nhất trong vòng 13 năm qua của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này. Vì thế, nợ địa phương đã chiếm đến gần 15% của tổng dư nợ tín dụng trong nền kinh tế Trung Quốc. Nguy hiểm hơn, nhiều địa phương hiện đang phải phát hành nợ mới để nuôi nợ cũ.

Trung Quốc với các tài sản tài chính trị giá hàng nghìn tỉ đô la Mỹ chắc chắn là không muốn để xảy ra một cuộc khủng hoảng tài chính khốc liệt. Tuy nhiên, các nhà quan sát cho rằng Trung Quốc có lẽ khó có thể tránh được một sự đổ vỡ về tài chính nào đó có tác động tiêu cực đến tăng trưởng. Vì khi đó thì ngay cả những dự án đầu tư có hiệu quả tiềm năng cũng có thể phải đối mặt với tình trạng không huy động được vốn. Đầu tư bị cắt giảm sẽ làm cho tăng trưởng suy yếu trong vài quý tiếp theo đó.

Mặc dù Trung Quốc đặt kế hoạch và tin tưởng rằng nước này có thể đạt được tốc độ tăng trưởng 7,5% năm nay, nhưng vì Trung Quốc đã thay đổi định hướng phát triển, từ đầu tư mạnh sử dụng vốn tín dụng ngân hàng vào các ngành công nghiệp nặng như sắt thép sang sang thúc đẩy tiêu dùng nội địa, nên tốc độ tăng trưởng đã và sẽ còn giảm mạnh hơn.

Những chỉ biểu về hoạt động kinh tế như tăng trưởng công nghiệp gần đây đều tụt xuống mức thấp nhất trong nhiều tháng qua cho thấy xu thế gia tăng đà giảm tốc này. Vì thế, một số tổ chức và chuyên gia đã đưa ra dự đoán tốc độ tăng trưởng năm nay thấp hơn nhiều so với con số 7,5% của Chính phủ Trung Quốc.

Trước khả năng nền kinh tế sẽ tăng trưởng chậm lại đáng kể, Chính phủ Trung Quốc lại đứng ra can thiệp bằng một số giải pháp kích thích tài chính như họ đã từng làm hồi năm ngoái khi tăng trưởng chậm hơn dự kiến. Tuy nhiên, lần này khả năng can thiệp của Chính phủ Trung Quốc đã bị giới hạn đáng kể khi họ phải canh cánh nỗi lo dọn dẹp khu vực doanh nghiệp nhà nước thua lỗ và thắt chặt đầu tư vào các ngành, lĩnh vực không có hiệu quả.

Hơn nữa, dưới áp lực của chính phủ, nhiều doanh nghiệp nhà nước lớn đã phải cắt giảm mạnh kế hoạch đầu tư và chi tiêu trong năm nay và các năm tới. Bên cạnh đó, chiến dịch thanh trừng tham nhũng trên diện rộng ở Trung Quốc cũng đã làm cho các quan chức chính phủ thêm chùn tay khi chi tiêu ngân sách.

Để phần nào bù đắp cho quy mô chi tiêu và đầu tư giảm từ ngân sách nhằm duy trì tăng trưởng, Chính phủ Trung Quốc vẫn còn một lựa chọn chính sách khác là nới lỏng hơn nữa chính sách tiền tệ. Nhưng lựa chọn này cũng không còn nhiều dư địa vì tăng trưởng tín dụng đã vượt tăng kinh tế, trong khi tổng dư nợ tín dụng được ước tính đã lớn gấp đôi quy mô GDP của Trung Quốc. Nếu tiếp tục nới lỏng tiền tệ, bơm tín dụng thêm vào nền kinh tế thì chắc chắn sẽ không có mấy tác dụng đến tăng trưởng, trong khi nó vừa làm tăng rủi ro lạm phát bùng nổ, vừa làm tăng quy mô nợ xấu và con số vụ tuyên bố vỡ nợ do một phần lớn vốn tín dụng lại tiếp tục đổ vào các doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).