Thursday, 22 May 2014

Khi kinh doanh không đùa với niềm tin! (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 22/5/2014, bản gốc)

 
Nhiều năm gần đây đã cho thấy nhiều trường hợp các quyết định sản xuất kinh doanh, nhất là của/liên quan đến khối doanh nghiệp nhà nước được hoạch định và thi hành dựa vào ý chí chủ quan, cũng như niềm tin và hy vọng mơ hồ của những người cầm chịch, chứ không phải là dựa trên cơ sở những tính toán về kinh tế vốn là cách làm thông thường của những doanh nghiệp cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.

Một trong những ví dụ điển hình về chuyện dựa vào niềm tin là trường hợp của Vinashin. Năm 2010, sau khi mọi việc bung bét, Vinashin bên bờ vực phá sản và Chính phủ buộc phải tái cơ cấu nó, đã có vị lãnh đạo mạnh miệng tuyên bố đại ý là đến năm 2012 thì Vinashin hết lỗ và đến năm 2014 thì bắt đầu có lãi. Nói chung là cũng có phân tích này kia để dẫn đến được kết luận này, chẳng hạn như tái cơ cấu, tập trung vào ngành nghề chính, tiếp tục sản xuất kinh doanh v.v... nhưng không khó để thấy rằng những phân tích đó không khác gì việc “đếm cua trong lỗ”, dựa đơn thuần vào ý chí chủ quan và niềm tin đã quyết tâm làm thì sẽ làm được, làm tốt, đạt được kết quả như mong muốn.

thực tế đã tỏ ra phũ phàng hơn thế nhiều khi cho thấy Vinashin không những không hết lỗ mà còn bị cho “biến mất”, thay vào đó là một công ty mang tên khác, với những khoản nợ khổng lồ được phân tán cho các nơi khác gánh hộ, hoặc treo, hoặc xóa.

Dự án “đình đám” gần đây nhất là dự án bô xít ở Tây Nguyên, vốn đã hứng chịu nhiều phản biện trái chiều của dư luận. Theo báo cáo đánh giá của đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cũng như đại diện của Chính phủ là Bộ Công thương là dự án có hiệu quả, cho dù không cao. Về phía Bộ Công thương, họ đưa ra những lý lẽ minh chứng tính hiệu quả của dự án một cách khá dễ dãi. Ví dụ, “sản phẩm alumin(a) sản xuất ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó”. Đương nhiên là nếu bán rẻ thì sẽ tiêu thụ hết ngay thôi, có gì để nói lên tính hiệu quả ở đây đâu?

Và vì giá tiêu thụ của alumina Việt Nam ở thời điểm này (và cả trước đó) chắc chắn thấp xa so với mức giá có lãi khi lập dự toán (hiện giá alumina giao ngay FOB từ Úc  là 316 USD/tấn vào ngày 16/5, và trung bình là USD323/tấn trong 5 tháng đầu năm 2014, 327 USD/tấn năm 2013, so với giá mà Vinacomin ước tính có lãi là 362 USD/tấn;[1] xem Hình 1 về giá dưới đây) nên cho dù có bao biện rằng dự án bô xít này có hiệu quả ở mặt gì đi chăng nữa thì về mặt kinh tế phải nói nó là một dự án tồi, không hiệu quả.

Ngoài ra, với giá thành sản xuất tại thời điểm 3/2013 là 6,5 triệu đồng/tấn (trên 310 USD/tấn)[2] và giả thiết là mức này không đổi cho đến thời điểm hiện tại thì có thể nói tính cạnh tranh về giá thành (chưa nói đến chất lượng) của alumina sản xuất tại Việt Nam đang rất kém. Cụ thể, từ Hình 2 minh họa về giá thành sản xuất alumina của thế giới, ta thấy Việt Nam đang nằm ở phía cuối của nhóm 3 hoặc đã lọt vào nhóm 4 là nhóm có giá thành cao nhất (mỗi nhóm đại diện 25% sản lượng thế giới). Nói cách khác, chi phí sản xuất alumina ở Việt Nam đang rất cao so với mức trung bình của thế giới, nên Vinacomin sẽ là một trong những nhà sản xuất phải đóng cửa trước tiên khi giá alumina thế giới trong tương lai tiếp tục ở mức thấp như hiện tại (giả thiết rằng Chính phủ không có ưu đãi, cứu trợ, hỗ trợ gì).

Để phần nào trấn an dư luận, các quan chức hữu trách đưa ra dự báo rằng giá bán alumina sẽ tăng lên khoảng 400 USD/tấn vào năm 2018 (trở đi), và tin rằng dự án “sẽ đỡ rủi ro hơn”. Đồng ý rằng giá alumina cũng có khả năng tăng lên đến mức này (mặc dù cần lưu ý rằng dự đoán thường cũng không hiếm khi sai). Nhưng điều cần chú ý là trong phần tăng lên của giá bán này có mặt của lạm phát. Đối với giá thành sản xuất alumina tại Việt Nam, của Vinacomin, cũng vậy, giá bán có thể tăng lên nhưng cũng rất có thể sẽ đồng hành với giá thành tăng lên, một phần do lạm phát. Nếu thế thì biên độ lợi nhuận hoàn toàn có khả năng không được cải thiện, nếu không muốn nói là sẽ kém đi (và Vinacomin vẫn thuộc trong số những nhà sản xuất alumina kém hiệu quả nhất thế giới). Do đó, niềm tin rằng dự án “sẽ đỡ rủi ro hơn” cũng rất... chập chờn và mơ hồ trong tương lai mấy (chục) năm nữa.

Các quan chức cũng bổ sung thêm yếu tố là có thể khai thác sắt từ bùn đỏ của dự án bô xít như là một điểm cộng cho tính hiệu quả của dự án. Nhưng có điều đây cũng chỉ như việc “đếm cua trong lỗ”, vì để biến thành hiện thực, Vinacomin lại có thể vấp phải thêm một vòng luẩn quẩn nữa: vay nợ, đầu tư, sản xuất kém hiệu quả, thua lỗ, vay nợ/xin ưu đãi, hỗ trợ, xóa nợ...

Sau cùng, một số “ưu điểm” khác của dự án như giải quyết công ăn việc làm, văn hóa, môi trường .... cũng được liệt kê ra, nhưng nói cho cùng số tiền (dự tính) thua lỗ từ việc sản xuất alumina nếu để dành làm những dự án khác cho vùng đất Tây Nguyên này thì có lẽ sẽ còn mang lại hiệu quả trực tiếp lớn hơn nhiều.

Tóm lại, với tư duy làm dự án (bởi các doanh nghiệp nhà nước) ở Việt Nam phần nhiều mang nặng tính chủ quan, duy ý chí, dựa vào niềm tin và quyết tâm chính trị nhiều hơn là những tính toán lỗ lãi về kinh tế thuần túy, không khó hiểu khi nhiều dự án lớn nhỏ đã và đang thua lỗ nặng nề, dường như không lối thoát. Riêng đối với dự án bô xít, cũng đã đến lúc cần mạnh dạn thừa nhận tính không hiệu quả (về kinh tế) của nó để sớm có quyết định phù hợp, ít gây tổn thất nhất cho xã hội. Nếu vẫn cứ muốn nhấn mạnh đến mục tiêu phi kinh tế thì tốt nhất là làm các dự án riêng biệt và trực tiếp nhằm đến các mục tiêu đó.





[1] http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/can-tam-dung-du-an-alumin-nhan-co-20130509114451754.htm
[2] Đã dẫn.










Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).