Tuesday, 6 May 2014

Thảm họa kiến thức


http://bizlive.vn/vang-tien/5-ly-do-khong-nen-pha-gia-tien-dong-164280.html
 
Đọc bài phỏng vấn này của đồng chí TS Cấn Văn Lực và được biết đồng chí này là Giám đốc trường đào tạo cán bộ BIDV, tớ thấy áy náy cho ai là học trò của đồng chí này.
Mặc dù tớ đã viết nhiều, tranh luận nhiều đến tỷ giá, đến chuyện có nên phá giá hay không, nhưng trong bài phang này tớ không nhắc lại những lập luận của tớ nữa, mà chỉ dùng những phản biện đơn giản nhất có thể để phang đồng chí Lực.
1.                  Đồng chí Lực nói: “Thứ nhất, xét về lý thuyết, điều chỉnh tỷ giá phải so sánh tốc độ lạm phát của Việt Nam và Mỹ. Thực tiễn hai nước khác hẳn nhau, nên không thể dựa vào lạm phát của hai nước để điều chỉnh tỷ giá”.
Tớ bình luận: Vậy lý thuyết để làm gì? Nói vậy thì học kinh tế học làm gì, học lên TS để làm gì? Để phát hiện ra rằng thực tiễn không thể áp dụng được lý thuyết à?
2.                  Đồng chí Lực nói: “Thứ hai, nhiều ý kiến cho rằng, nên điều chỉnh tỷ giá để hỗ trợ xuất khẩu, song thực tiễn Việt Nam cho thấy, điều chỉnh tỷ giá không tác động đáng kể tới xuất nhập khẩu.

Đơn cử, giai đoạn 2010- 2011, tỷ giá điều chỉnh 10% mà xuất khẩu vẫn đứng im trong khi  nhập khẩu tăng tới 30%. Lý do là cơ cấu hàng xuất khẩu của nước “có vấn đề”, tức giá trị hàng xuất khẩu có tới 70% là nguyên liệu đầu vào nhập khẩu.”
Tớ bình luận: Đồng chí phải hiểu rằng rất có thể nhờ phá giá 10% mà xuất khẩu không bị suy giảm (may mà đứng im được), và nhập khẩu chỉ tăng có 30%, chứ không phải là 50% hay 100%. Sao đồng chí không thử tìm hiểu xem nếu phá giá lên, ví dụ, 50% thì thế nào?
3.                  Đồng chí Lực nói: “Thứ ba, nợ nước ngoài của Việt Nam đang rất lớn, khoảng  42-43% GDP (theo số liệu của Bộ Tài chính, nợ nước ngoài của Việt Nam đến hết năm 2013 là 56,2 GDP- PV). Do đó, việc điều chỉnh tỷ giá sẽ làm tăng, tăng gánh nặng trả nợ nước ngoài của quốc gia”.
Tớ bình luận: Ví dụ Việt Nam hiện nay đang nợ một nước A nào đó 1 tỷ USD. Can cớ gì mà nói nợ của Việt Nam với nước A tăng từ 1 tỷ USD này lên thành, ví dụ, 1,1 tỷ USD vì VND bị phá giá? Nói cách khác, nước A có lý do gì mà đòi Việt Nam phải trả nợ 1,1 tỷ USD?
4.                  Đồng chí Lực nói: “Thứ tư, bản thân các chuyên gia của các ngân hàng nước ngoài cũng cho rằng đồng Việt Nam không bị định giá cao, ví dụ như nhận định của ngân hàng Citibank tháng 2/2014 vừa qua. Giới đầu tư nước ngoài rất tinh, nếu cho rằng đồng Việt Nam bị định giá cao, họ sẽ sẽ đầu cơ ngay, đợi khi NHNN bán ra để kiếm lời, song hiện họ không có động thái gì”.
Tớ bình luận: Thế sao đồng chí không trích dẫn những chuyên gia nước ngoài cho rằng VND bị lên giá thực (bị định giá cao)? Mình là TS mà bản lĩnh để đâu để đến mức phải mượn lời “chuyên gia nước ngoài” cho lời nói của mình thêm “phê”?
Còn chuyện giới đầu tư nước ngoài “tinh”, cứ cho là vậy đi, nhưng sao đồng chí không đặt ngược câu hỏi, họ không có động thái gì vì phải chăng họ, cũng như đồng chí, tin sái cổ vào lời của cam kết và tuyên bố của NHNN rằng sẽ không phá giá?
5.                  Đồng chí Lực nói: “Thứ năm, suốt thời gian qua, NHNN đã giữ được tâm lý ổn định tỷ giá, tạo niềm tin với tiền đồng. Nếu NHNN phá giá tiền đồng sẽ gây xáo trộn thị trường, làm niềm tin với tiền đồng sụt giảm”.
Tớ bình luận: Cái này nghe được! Giá nói ngay từ đầu và chỉ có một lý do thế này thì tớ đỡ phải mất công phang đồng chí không?
Nhưng chưa xong. Đồng chí cũng như NHNN có “nắm tay từ tối đến sáng” được không? Lời cam kết “không phá giá” quyết liệt này kéo dài được bao lâu? Không phải là nhiều năm phải không (tớ thì cho là không quá một năm)? Vậy thì đến lúc phải phá giá thì các đồng chí không sợ niềm tin còn bị sụt giảm đến âm ư, khi vừa hôm trước còn cam kết không phá giá mà đùng cái hôm sau đã phải phá giá?

Trời đất hỡi!

 

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).