Tuesday, 10 June 2014

Quỹ bình ổn giá xăng dầu có tác dụng gì? (Bài đăng trên TBKTSG Online, 11/6/2014)

http://www.thesaigontimes.vn/116117/Quy-binh-on-gia-xang-dau-co-tac-dung-gi?.html

(TBKTSG Online)- LTS: Quỹ bình ổn giá xăng dầu hiện nay có thực sự đem lại lợi ích cho người dân hay đang làm tổn hại đến an sinh xã hội? Liệu có nên tiếp tục duy trì Quỹ bình ổn nữa hay không? TBKTSG Online giới thiệu ý kiến sau đây của một chuyên gia kinh tế và mong nhận các ý kiến khác.

Theo giải thích của Bộ Tài chính cũng như báo cáo của Kiểm toán Nhà nước, Quỹ bình ổn giá xăng dầu góp phần bình ổn mặt bằng giá nói chung, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì ổn định tăng trưởng và an sinh xã hội.

Có thực vậy không? Nếu đúng vậy, có lẽ nhà nước nên thành lập thêm càng nhiều quỹ bình ổn để bình ổn (ở cấp quốc gia) giá của càng nhiều mặt hàng thì càng tốt. Vì, cùng một logic, các loại quỹ bình ổn này sẽ đều có tác dụng bình ổn mặt bằng giá cả nói chung, và, do đó, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng và an sinh xã hội.

Tuy nhiên, thực tế về Quỹ bình ổn ở Việt Nam lại khác, và, do đó, sẽ rất khiên cưỡng khi nói Quỹ bình ổn có những tác dụng như ca ngợi.

Về bản chất, Quỹ bình ổn xăng dầu hiện nay ở Việt Nam đang lấy tiền của chính người mua xăng dầu để “bình ổn” giá cho người mua xăng dầu. Do đó, xét về an sinh xã hội (hiểu nôm na ở đây là quyền lợi của người mua xăng dầu, và từ đó lan tỏa ra khắp xã hội) không được cải thiện gì, vì người mua xăng dầu tuy có được mua xăng dầu bình ổn với giá không tăng trong tương lai gần nhưng đó chỉ là do họ đã ứng trước cho phần giá tăng lên này, chứ sự “bình ổn” không tự nhiên đến, hoặc đến nhờ có tiền trợ giá của một bên thứ ba, chẳng hạn, nhà nước.

Để cho dễ hiểu hơn, ta lấy một ví dụ cụ thể như sau.

Giá bán lẻ xăng ngày hôm nay, chưa gồm tiền trích vào Quỹ bình ổn, là 20.000 đồng/lít. Sau khi trích Quỹ bình ổn, ví dụ, 5% giá xăng, giá bán lẻ xăng sẽ thành 21.000 đồng/lít. Như vậy, việc trích lập Quỹ bình ổn đã tước đi của người mua xăng dầu thêm 1.000 đồng/lít vào thời điểm hiện tại.

Giả sử một tháng sau, giá xăng dầu nhập khẩu tăng lên làm cho giá bán lẻ trong nước lẽ ra phải tăng lên đúng 5% (1.000 đồng/lít). Nhờ có Quỹ bình ổn, giá bán lẻ xăng dầu không thay đổi.

Nhưng điều này không có nghĩa là người mua xăng dầu được lợi 1.000 đồng/lít một tháng sau này, vì thực chất họ đã ứng trước số đó một tháng trước, thông qua trích lập Quỹ bình ổn! Tức là về mặt an sinh xã hội, người tiêu dùng nói riêng và xã hội nói chung chẳng được lợi thêm gì từ Quỹ bình ổn cả.

Thêm nữa, xét về tác dụng ổn định giá cả, chính phần tiền ứng trước cho Quỹ bình ổn này làm cho giá cả xăng dầu thay vì lẽ ra phải/sẽ tăng lên vào một thời điểm trong tương lai thì lại tăng ngay vào thời điểm trích lập Quỹ bình ổn hiện tại. Nói cách khác, và suy rộng ra, Quỹ bình ổn sẽ “kéo” sự  tăng giá (tức lạm phát) trong tương lai về hiện tại.

Trở lại ví dụ trên, việc trích lập 1.000 đồng/lít vào Quỹ bình ổn hôm nay đã  “vô tình” tạo ra áp lực tăng giá trong thời điểm hiện tại khi nó góp thêm áp lực đến từ việc tăng giá xăng dầu thêm 1.000 đồng/lít vào trong rổ hàng hóa tính CPI cho tháng hiện tại. Tuy áp lực lên CPI không thay đổi sau một tháng nữa, nhưng đó là vì áp lực đó đã dồn lên CPI từ một tháng trước đó rồi. Như thế, nếu tính mặt bằng giá cả chung cho cả năm thì CPI vẫn sẽ tăng lên, khi các điều kiện khác không thay đổi, cho dù có sự tồn tại của Quỹ bình ổn.

Ngoài những sự vô tác dụng nói trên, Quỹ bình ổn còn gây hại ở chỗ nó là “hố đen” để một nhóm người nào đó có thể trục lợi, vì mọi việc liên quan đến Quỹ bình ổn không thể minh bạch hoàn toàn được. Đó là chưa nói đển tổn thất tính vào Quỹ bình ổn, tức là được “trừ” vào lợi ích của người tiêu dùng, khi mà việc quản lý Quỹ bình ổn làm phát sinh chi phí quản lý và đủ loại chi phí liên quan khác.

Nói cách khác, sẽ là không quá khi kết luận rằng Quỹ bình ổn thực ra lại làm tổn hại đến an sinh xã hội cũng như kiểm soát lạm phát và ổn định vĩ mô, vì một phần của nguồn lực xã hội bị tiêu tốn một cách vô ích.
 
 

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).