Thursday, 14 August 2014

Nên mạnh tay tái cơ cấu các đơn vị sự nghiệp công lập (Bài đăng trên TBKTSG, ngày 14/8/2014, bản gốc)

http://www.thesaigontimes.vn/118798/Nen-manh-tay-tai-co-cau-cac-don-vi-su-nghiep-cong-lap.html

Đặc tính chung của các đơn vị sự nghiệp công lập, hưởng ngân sách là người làm việc không có mấy động cơ làm việc tận tụy, vì thu nhập được xây dựng trên cơ sở của và bị khống chế bởi thang lương, bảng lương do nhà nước quy định cứng nhắc. Còn các đơn vị sự nghiệp thì có xu hướng đẻ ra thêm về số lượng, phình to ra về biên chế vì không có động cơ cắt giảm chi phí, mà chỉ cần giải trình xin được ngân sách là sống khỏe.

Nên sẽ không có gì là ngạc nhiên khi, trái ngược với xu hướng co hẹp lại của khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN), khu vực đơn vị sự nghiệp đã không những không giảm mà còn tăng mạnh trong những năm qua. Cụ thể, theo Tổng cục Thống kê, số lượng các đơn vị sự nghiệp tăng từ 63.054 đơn vị năm 2007 lên đến 69.735 đơn vị năm 2012, loại trừ mức tăng của ngành y tế và giáo dục thì con số đơn vị sự nghiệp khác vẫn tăng mạnh từ 8.770 lên 11.341 đơn vị. Đi kèm với việc phình to về quy mô đương nhiên là gánh nặng bao cấp đè lên ngân sách.

Về giá dịch vụ do các đơn vị sự nghiệp cung cấp các dịch vụ công, về cơ bản là do hoặc dựa trên mức nhà nước quy định. Giá này thường hoặc là thấp hơn giá thị trường (để đảm bảo sự tiếp cận cho các đối tượng thu nhập thấp) hoặc là cao hơn giá thị trường (có thể vì được hưởng sự độc quyền trong khu vực địa lý hoặc trong phạm vi ngành nghề). Với trường hợp giá thấp hơn giá thị trường (chẳng hạn dịch vụ y tế, đào tạo), nhà nước phải bao cấp và bù lỗ, và như thế có nghĩa là kể cả đối với những đối tượng có thu nhập cao hơn cũng được bao cấp. Với trường hợp giá dịch vụ cao hơn giá thị trường (chẳng hạn giá các dịch vụ bến xe, cảng, sân bay), chi phí và sức cạnh tranh của các người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng.

Về chất lượng dịch vụ do các đơn vị sự nghiệp cung cấp, nhìn chung là yếu kém, không có động lực được cải thiện trong hầu hết các trường hợp, do hoặc được bao cấp hoặc được độc quyền. Với những dịch vụ được bao cấp về giá (và chi phí), các đơn vị sự nghiệp và người lao động không cần, không có động lực phấn đấu nâng chất lượng và giảm giá thành dịch vụ của mình. Tương tự, với những dịch vụ mang tính độc quyền nhà nước, chất lượng và chi phí dịch vụ cũng không được chú trọng cải thiện vì người dân và doanh nghiệp không có lựa chọn nào khác.

Về số lượng và phạm vi dịch vụ cung cấp bởi các đơn vị sự nghiệp, thực tế xã hội phát triển và thay đổi có thể làm nảy sinh những nhu cầu dịch vụ mới và co hẹp những dịch vụ hiện tại do các đơn vị sự nghiệp cung cấp. Nhưng sự cứng nhắc trong các ràng buộc về cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập làm cho các dịch vụ mới phát sinh không được đáp ứng một cách hiệu quả, còn các dịch vụ có xu hướng bị đào thải cũng không được “chôn” một cách hiệu quả (chẳng hạn đóng cửa, giải thể hoặc chuyển đổi ngành nghề các đơn vị cung cấp những loại hình dịch vụ này), ít gây phí tổn cho ngân sách và toàn xã hội.

Để khắc phục tất cả những hạn chế và tồn tại nói trên, cần cấp thiết cải tổ, sắp xếp, xốc lại và cổ phần hóa, “doanh nghiệp hóa”, “thị trường hóa” tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập và dịch vụ của chúng. Đây cần được coi là nhiệm vụ cấp bách, đặc biệt trong bối cảnh ngân sách đang phải gắng sức gồng mình mà thâm hụt dường như chỉ có tăng.

Tuy vậy, so với việc tái cơ cấu DNNN, việc tái cơ cấu các đơn vị sự nghiệp công lập hầu như chưa có động tĩnh gì đáng kể. Quá trình này có lẽ được khởi động rõ nét nhất với dự thảo trước đây của Bộ Tài chính về “Quy chế thí điểm chuyển đơn vị sự nghiệp công lập có thu thành công ty cổ phần”.  Nhưng rốt cuộc dự thảo này bị bỏ ngang không rõ lý do. Có phân tích đã chỉ ra rằng do mọi người chỉ chú ý đến một đối tượng “sự nghiệp công lập có thu” là các trường đại học, nên đa phần ý kiến là phản đối và vì thế dự thảo bị rút lại.

Hồi tháng 4 năm nay Bộ Tài chính lại đưa ra dự thảo tương tự, nhưng với đối tượng hạn hẹp hơn: Quyết định về thí điểm chuyển đổi một số đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc thành công ty cổ phần khi cổ phần hóa các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Theo đó, dự thảo này giới hạn đối tượng cổ phần hóa chỉ là các đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước được cổ phần hóa, chứ không phải là các đơn vị sự nghiệp công lập có thu chung chung.

Có thể thấy đây chỉ là một bước đi bắt buộc. Dự thảo này lựa chọn đối tượng là các đơn vị sự nghiệp công lập có thu trực thuộc các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước được cổ phần hóa rất có thể đơn giản vì khi các tập đoàn và tổng công ty đưa ra cổ phần hóa thì các công ty, đơn vị con của chúng không thể để tồn tại như hiện tại được, tức cũng phải cổ phần hóa theo (thậm chí là trước khi cổ phần hóa tập đoàn và tổng công ty mẹ).

Mới đây nhất, chính phủ đã bắt tay xây dựng Nghị định thay thế Nghị định 43/2006/NĐ-CP về đổi mới cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập, nhằm tạo lộ trình xoá bỏ bao cấp nhà nước qua giá, phí dịch vụ sự nghiệp công như hiện nay theo hướng tính đủ tiền lương, chi thường xuyên phù hợp với khả năng của NSNN và thu nhập của người dân, đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các đơn vị sự nghiệp nói chung, đồng thời chấp nhận giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập không hiệu quả. Nhà nước sẽ tiến tới đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công dựa trên cơ sở định mức kinh tế, kỹ thuật. Để đảm bảo công bằng cho đối tượng chính sách, Nhà nước sẽ hỗ trợ trực tiếp khi đối tượng này sử dụng dịch vụ sự nghiệp công.

Tuy nhiên, dự thảo Nghị định trên mới chỉ đề cập chủ yếu đến việc tự do hóa giá dịch vụ công lập, tức là, về nghĩa đen, nâng giá dịch vụ công lập lên bằng giá thị trường cho các loại hình dịch vụ đó. Điều này mới chỉ giải quyết được một phần trong những vấn đề tồn tại nói trên liên quan đến các đơn vị sự nghiệp công lập. Nó sẽ không giải quyết được triệt để những vấn đề khác, ví dụ như tình trạng độc quyền trong cung cấp dịch vụ với giá độc quyền, sự thiếu vắng cạnh tranh giữa các đơn vị sự nghiệp với các doanh nghiệp/đơn vị phi nhà nước trong cùng lĩnh vực, và về gánh nặng ngân sách nhằm duy trì hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập này v.v...

Bởi vậy, giải pháp về lâu dài và cơ bản nhất cho khu vực này vẫn là phải tích cực “doanh nghiệp hóa” các đơn vị sự nghiệp công lập, tự do hóa thị trường dịch vụ công lập, song song với duy trì và tăng cường các chính sách xã hội trợ giúp cho các đối tượng cần trợ giúp trong việc sử dụng các dịch vụ đang được cung cấp bởi các đơn vị sự nghiệp công lập.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).