Saturday, 15 November 2014

“Quyết liệt” trên giấy thôi không đủ (Bài đăng trên TBKTSG, 13/11, bản gốc)

 
Bộ Tài chính mới đây cho biết, trong 10 tháng đầu năm 2014, cả nước mới sắp xếp được 96 doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trong đó cổ phần hóa 75 doanh nghiệp trong tổng số 432 doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa trong 2 năm 2014 – 2015, chưa kể số DNNN tiếp tục thực hiện rà soát theo tiêu chí, danh mục phân loại DNNN mới ban hành kèm theo Quyết định số 37/2014/QĐ-TTg ngày 18/6/2014. Trước thực trạng này, Bộ Tài chính lại thêm một lần nữa phải thừa nhận rằng quá trình sắp xếp, cổ phần hóa diễn ra chậm hơn so với yêu cầu đặt ra.
Lý giải sự chậm chễ này, Bộ Tài chính tiếp tục đưa ra những lý do cũ, cả khách quan và chủ quan, như tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và những khó khăn của kinh tế trong nước, ảnh hưởng đến thị trường tài chính, chứng khoán và kế hoạch bán cổ phần ra công chúng của các doanh nghiệp cổ phần hóa cũng như thoái vốn đầu tư; một số Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chưa chỉ đạo quyết liệt và tích cực tổ chức triển khai phương án sắp xếp, cổ phần hóa và thoái vốn; Nhận thức của một số bộ phận cán bộ ở các cấp, các ngành và các doanh nghiệp về chủ trương tái cơ cấu doanh nghiệp tuy đã có chuyển biến nhưng chưa hiểu đúng ý nghĩa quan trọng của việc tái cơ cấu doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội; Đối tượng sắp xếp, cổ phần hóa hiện nay hầu hết là các doanh nghiệp có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành nghề, tài chính phức tạp nên cần có nhiều thời gian chuẩn bị, xử lý v.v...
Bất chấp ý chí quyết tâm và sự thúc giục quyết liệt của những nhà lãnh đạo đảng và chính phủ nhằm thúc đẩy cổ phần hóa qua những chỉ đạo và những nghị quyết, thực tế chậm chễ trong cổ phần hóa hiện nay, với những nguyên nhân cũ mòn, cho thấy dường như ý chí quyết tâm và quyết liệt này thôi là chưa đủ. Điều cần có là những hành động quyết liệt để hiện thực hóa được sự quyết tâm và quyết liệt này.
Xem xét lại những nguyên nhân mà Bộ Tài chính đưa ra bên trên để lý giải cho sự chậm chễ cổ phần hóa, dễ thấy chúng không phải là những nguyên nhân thỏa đáng, như phân tích dưới đây.
Trước tiên, khủng hoảng tài chính thế giới và những khó khăn của kinh tế trong nước đã hiện diện từ dăm năm nay, chứ không phải mới đây, và càng không phải là xảy ra sau thời điểm các cơ quan hữu trách lên kế hoạch cổ phần hóa để mà nói rằng khủng hoảng và khó khăn kinh tế là bất ngờ, đã làm đảo lộn, gây khó dễ cho kế hoạch cổ phần hóa DNNN của chính phủ một cách khách quan, bất khả kháng.
Thêm nữa, kinh tế càng khủng hoảng, càng khó khăn thì mới càng cần phải tích cực, càng phải hành động quyết liệt để cổ phần hóa DNNN nhằm cắt bớt gánh nặng ngân sách, đồng thời có thêm một nguồn thu dùng vào việc khắc phục những khó khăn kinh tế. Nếu cứ mong, cứ đợi khi nào kinh tế phục hồi, hết khó khăn thì mới cổ phần hóa thì đó chỉ là một sự phó thác thụ động, và nếu có phục hồi thì lúc đó nhu cầu cổ phần hóa lại bớt “quyết liệt” đi nhiều vì một số DNNN có thể lại ăn nên làm ra khi đó, làm người ta quên lãng chuyện cổ phần hóa.
Thứ hai, như đã nói, cho đến nay đã có nhiều nghị quyết, với những chỉ đạo quyết liệt từ các cấp lãnh đạo, thế mà vẫn còn tình trạng: “... một số Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước chưa chỉ đạo quyết liệt và tích cực tổ chức triển khai phương án sắp xếp, cổ phần hóa và thoái vốn”, như Bộ Tài chính thừa nhận.
Điều này chứng tỏ những nghị quyết trên, đi kèm với những răn đe, ví dụ như quy trách nhiệm cho người đứng đầu DNNN và các cơ quan nhà nước liên đới nếu không hoàn thành nhiệm vụ cổ phần hóa thì sẽ bị mất chức v.v... đã không được đưa vào thực tiễn bởi các cấp thừa hành. Người ta buộc phải đặt câu hỏi, sao không thấy chính phủ quyết liệt xử lý tình trạng này, chẳng hạn bằng cách tiến hành kỷ luật hoặc công khai một trường hợp điển hình nào đó làm trái những chỉ đạo cổ phần hóa để làm gương răn đe những trường hợp “chưa chỉ đạo quyết liệt và tích cực tổ chức triển khai” khác đang và sẽ còn tiếp tục diễn ra?
Thứ ba, tương tự như vậy là nguyên nhân: “Nhận thức của một số bộ phận cán bộ ở các cấp, các ngành và các doanh nghiệp về chủ trương tái cơ cấu doanh nghiệp tuy đã có chuyển biến nhưng chưa hiểu đúng ý nghĩa quan trọng của việc tái cơ cấu doanh nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội”.
Những cán bộ có liên quan đến việc cổ phần hóa DNNN có thể nói đều là những người đang ở các vị trí quản lý, có đầy đủ năng lực nhận thức cần thiết để mà “hiểu đúng ý nghĩa quan trọng của việc tái cơ cấu doanh nghiệp”, đặc biệt là khi việc tái cơ cấu đã trở thành chủ trương xuyên suốt trong chính sách của đảng, nhà nước, được tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân. Vậy thì cái sự “chưa hiểu đúng ý nghĩa” này chỉ có thể được hiểu là, hoặc người ta đã cố tình chậm chễ cổ phần hóa để trục lợi, hoặc là họ thiếu trách nhiệm. Những cán bộ rơi vào một trong hai trường hợp này đều cần bị trừng phạt thích đáng. Nhưng tiếc là cho đến nay cũng chưa thấy có trường hợp cán bộ nào như thế này bị nêu tên và/hoặc bị trừng phạt vì hành vi “chưa hiểu đúng”.
Thứ tư, nguyên nhân “cần có nhiều thời gian chuẩn bị, xử lý”, do đối tượng doanh nghiệp được cổ phần hóa quá lớn, phức tạp v.v... cũng có thể được xem như chỉ là một sự biện minh cho hành động trục lợi hoặc thiếu trách nhiệm của một số cán bộ liên đới. Cổ phần hóa đã có cả một thời gian dài hàng chục năm chuẩn bị, và những đối tượng doanh nghiệp này cũng đã nằm trong tầm ngắm, được dự trù làm đối tượng cổ phần hóa từ lâu. Những trở ngại về pháp lý liên quan đến cổ phần hóa như chuyện định giá tài sản, thoái vốn v.v... cũng đã và đang lần lượt được khắc phục. Do đó, cổ phần hóa nếu có bị chậm chễ trong những trường hợp này thì chủ yếu là do sự thiếu quyết liệt của những cá nhân và tổ chức liên đới vì một lý do nào đó, như đã nói ở điểm 2 và 3 ở trên.
Và cuối cùng, cũng cần phải nói thêm rằng sự chậm chễ không chỉ do thiếu hành động quyết liệt, mà nó còn bắt nguồn từ trong nhận thức của nhiều nhà hoạch định chính sách. Chẳng hạn, tâm lý cổ phần hóa nhưng nhà nước vẫn phải giữ cổ phần chi phối trong một số doanh nghiệp sau cổ phần hóa đã làm cho nhiều nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước nản lòng vì phải đối mặt với viễn cảnh sau cổ phần hóa nhưng quản trị doanh nghiệp hầu như về cơ bản sẽ chẳng có gì thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, minh bạch hơn trước cổ phần hóa.
Ngay cả việc cho rằng vì có sự đi xuống của thị trường tài chính, chứng khoán nên cần phải thận trọng với kế hoạch bán cổ phần ra công chúng của nhiều doanh nghiệp (chủ yếu bằng cách thu nhỏ khối lượng cổ phần chào bán vì sợ thị trường “ngập lụt” với nguồn cung cổ phiếu mới, làm cho việc cổ phần hóa bị thất thu) cũng là một nhận thức không xác đáng. Cho dù thị trường có đi xuống, nhưng nếu là “hàng” tốt, có giá chào bán phải chăng thì sẽ được thị trường chào đón bằng những nguồn lực trong và cả ngoài nước, đủ để dẹp nỗi lo “ngập lụt” thị trường. Ngược lại, chính vì chủ trương bán nhỏ giọt cổ phần ra công chúng do nỗi lo sợ này lại càng làm cho nhà đầu tư trong và ngoài nước thêm nản lòng vì tỷ lệ sở hữu ít ỏi của họ không giúp họ có được tiếng nói trong hội đồng quản trị doanh nghiệp sau cổ phần hóa.
Tóm lại, những điểm nêu trên cho thấy sự chậm chễ cổ phần hóa thực ra có nguyên nhân do thiếu vắng những hành động quyết liệt hiện thực hóa các chính sách cổ phần hóa, bên cạnh một số nhận thức bất hợp lý về cổ phần hóa và thị trường.

 

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).