Friday, 30 January 2015

Giảm phát cũng có dăm bảy đường! (Bài đăng trên CafeF, 31/1/2015)

http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/giam-phat-cung-co-dam-bay-duong-20150131081625925.chn

Lạm phát đã diễn ra với nhiều bất ngờ, bắt đầu với 2 tháng liên tục rơi xuống mức âm trong cuối năm 2014, và càng bất ngờ vào tháng 1 năm nay, tháng cận Tết Nguyên đán, mà vẫn giảm tiếp 0,2% so với tháng 12/2014.

Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm qua, lạm phát tháng cận Tết tụt xuống mức âm. Bởi vậy, không ngạc nhiên khi có nhiều ý kiến cho rằng đây là biểu hiện rõ nét của giảm phát, do sức cầu giảm, tổng cầu yếu.

Trong một bài trả lời phỏng vấn thấu đáo và xác đáng mới đây, Tổng cục Thống kê (TCTK) đã đưa ra nhiều luận cứ và số liệu cho thấy một cách thuyết phục lạm phát tụt giảm như vừa qua không phải là do tổng cầu yếu.

Trong bài này, xin được bổ sung thêm một số yếu tố để bác bỏ mối lo ngại của nhiều người về lạm phát âm (giảm phát) ở Việt Nam, đặc biệt khi gắn nó một cách khiên cưỡng với chuyện tổng cầu yếu.

Thứ nhất, điều khác biệt cơ bản giữa Việt Nam với một số nước trên thế giới hiện đang phải đối mặt với nạn/nguy cơ giảm phát như EU hay Nhật là tăng trưởng GDP của Việt Nam ở mức cao hơn nhiều (6% năm 2014), và còn được dự đoán sẽ cao hơn nữa trong năm nay, đối nghịch với tình trạng tăng trưởng thấp, cận 0 hoặc thậm chí là âm của những nước và khu vực này, phản ánh tình trạng cầu trì trệ hoặc tiếp tục sụt giảm đi kèm với nạn thất nghiệp gia tăng và đứng ở mức cao.

Bởi vậy, tuy có thể là Việt Nam đang có dấu hiệu giảm phát – thuần túy nhìn từ con số thống kê, tức chỉ số CPI – nhưng cái giảm phát ở Việt Nam không phải là điều quan ngại vì nó không phải là biểu hiện của, không kéo theo suy giảm tổng cầu, không làm gia tăng thất nghiệp và tụt giảm thu nhập người lao động. Vì thế, không thể hễ cứ thấy có hiện tượng giảm phát là lại gióng lên hồi chuông báo động về những hậu quả theo lý thuyết của nó, để rồi khuyến nghị những chính sách chống giảm phát (tức làm tăng lạm phát) đầy rủi ro và nguy hại.

Thứ hai, giảm phát ở Việt Nam chỉ là hiện tượng mới xảy ra trong những tháng gần đây, chứ không nhất thiết sẽ là một xu hướng kéo dài trong cả năm nay. Quan trọng hơn, giảm phát ở Việt Nam là do yếu tố (tích cực) từ bên ngoài tác động đến, mà chủ yếu là do giá dầu thô thế giới tụt giảm. Như TCTK đã phân tích cho thấy, hầu như chỉ có nhóm hàng hóa dịch vụ vận tải, nhà ở và vật liệu xây dựng là nhóm chủ yếu trong rổ hàng hóa tính CPI có chỉ số giảm đi, song hành với sự sụt giảm của giá dầu thô thế giới. Các nhóm hàng hóa còn lại trong rổ hàng hóa tính CPI đều tăng lên so với tháng 12/2014. Điều này chứng tỏ rằng giảm phát ở Việt Nam không phải do những yếu kém nội tại như cầu yếu, thất nghiệp cao, thu nhập dân cư sụt giảm hoặc trì trệ, không dám chi tiêu v.v...

Ngược lại, ở nhiều nơi so sánh khác như EU và Nhật, sự giảm phát là hậu quả của những yếu kém nội tại, là sản phẩm “cây nhà lá vườn” và sự tụt giảm giá dầu chỉ “đổ thêm dầu vào lửa” mà thôi. Ở những nơi này, những câu chuyện về con số thất nghiệp gia tăng kỷ lục hay người dân phải bóp bụng chi tiêu, còn chính phủ thì hết ra gói kích thích này đến biện pháp hỗ trợ khác chỉ cốt để cho người dân mạnh dạn chi tiêu nhiều hơn... là những câu chuyện thời sự hàng ngày, liên tục trong nhiều ngày, nhiều tháng qua.

Cũng có liên quan với điểm này là khả năng kéo dài của tình trạng giảm phát ở Việt Nam. Như đã phân tích, lạm phát tụt giảm mạnh chủ yếu là do giá dầu thô, một yếu tố bên ngoài không thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam. Bởi thế, tình trạng giảm phát rất có khả năng sẽ đảo chiều nhanh chóng khi giá dầu thô phục hồi trở lại từ mức đáy như hiện nay, dù chỉ là ở mức thấp hơn nhiều so với nửa năm trước đây. Nên, chớ có vội lo lắng thái quá cho cái gọi là “giảm phát” ở Việt Nam.

Thứ ba, giảm phát ở Việt Nam xảy ra còn có sự góp mặt của những biện pháp bình ổn và quản lý giá hành chính mà nếu không có chúng thì giảm phát đã không xảy ra mà thay vào đó là lạm phát. Một ví dụ là chuyện giá cước giao thông vận tải đã và đang được các cơ quan hữu quan cố gắng kéo xuống. Nếu giá cả của nhóm này không giảm mạnh thì, như phân tích của TCTK, thậm chí CPI của các tháng vừa rồi còn có khả năng tăng lên, chứ không phải là ở mức âm như trên thực tế hiện nay.

Lập luận ngược lại, cứ theo như ý kiến của những người lo ngại về giảm phát ở Việt Nam, không lẽ các cơ quan chức năng nên thôi ngay các biện pháp quản lý và bình ổn giá hiện đang được nỗ lực và “quyết liệt” thực hiện để cho lạm phát Việt Nam quay trở lại ngưỡng đủ cao (vài điểm phần trăm), thoát khỏi ám ảnh “giảm phát” thì mới là tốt hay sao? Hoặc Việt Nam nên tìm cách “thúc” cho giá cả những hàng hóa và dịch vụ khác tăng lên cốt sao để cho CPI tăng trở lại mới là tốt hay sao?

Tóm lại, với 3 yếu tố nói trên, có thể kết luận rằng giảm phát, nếu có, ở Việt Nam thì cũng không phải là điều lạ lùng, bất ngờ, và quan trọng hơn, không phải là một điều tiêu cực mà vì thế phải bằng mọi giá để ngăn chặn nó xảy ra. Nói cách khác, không phải giảm phát ở đâu cũng giống nhau, nguy hại như nhau!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).