Friday, 6 March 2015

Làm sao để thực sự yên tâm về an ninh, an toàn bay? (Bài đăng trên Doanh nhân Sài Gòn, ngày 6/3/2015, bản gốc, tiêu đề do báo đặt lại)

http://www.doanhnhansaigon.vn/van-de/lam-sao-de-thuc-su-yen-tam-ve-an-ninh-an-toan-bay/1087131/

Nỗi lo an ninh khi bán sân bay – cần hiểu cho đúng!

Trước thông tin nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ được mua hoặc nhượng quyền khai thác các sân bay và nhà ga sân bay như Phú Quốc và Nội Bài, nhiều người tỏ ý lo ngại vấn đề về độc quyền, và đặc biệt là an ninh, an toàn bay. Đáp lại lo ngại này, mới đây một lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải (GTVT) tuyên bố trên báo chí rằng nhà nước chỉ bán, nhượng quyền phần dịch vụ khai thác thương mại và một phần đầu tư xây dựng, còn toàn bộ hoạt động quản lý bay, cũng như an ninh quốc phòng đều thuộc chủ quyền quốc gia, do nhà nước (thông qua Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam, VTAM) nắm giữ.
Vấn đề an ninh liên quan đến việc bán và nhượng quyền sân bay, nhà ga có thể xuất phát từ một nỗi lo rằng khi đã thuộc quyền sở hữu tư nhân, nhất là người nước ngoài, các nhà ga hay sân bay này có thể bị lợi dụng để phục vụ các mục đích, ý đồ xấu, có lợi cho một thế lực nào đó trong hoặc ngoài nước, xâm phạm và gây tổn hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia. Từ suy nghĩ này, sự tin cậy, phó thác việc quản lý, đảm bảo an ninh, an toàn bay vào bàn tay của các cơ quan quản lý nhà nước là điều tất yếu, vì người ta cho rằng các cơ quan này do là của nhà nước nên không có động cơ chạy theo các lợi ích thương mại và chính trị khác, ngoài lợi ích của quốc gia. Các cơ quan này sẽ không thỏa hiệp với bất cứ ai, lực lượng nào để gây phương hại cho an toàn bay, an ninh và chủ quyền quốc gia.

Mọi chuyện dường như đã rõ ràng, hiển nhiên nếu không có một chi tiết nhỏ liên quan đến VTAM. Tuy là một doanh nghiệp công ích do nhà nước nắm giữ 100% vốn và được xác định là không thuộc diện cổ phần hóa trong giai đoạn hiện nay, nhưng, theo các phương tiện truyền thông trích lời Tổng giám đốc VTAM cho biết, VTAM cũng đang xây dựng và triển khai một số đề án cổ phần hóa.
Trong cơ cấu tổ chức hiện tại của VTAM, ngoài các phòng ban chức năng và 3 công ty quản lý bay ở 3 miền Bắc, Trung, Nam, cùng với Trung tâm Hiệp đồng điều hành bay và Trung tâm Thông báo tin tức hàng không, và một công ty con trực thuộc là công ty TNHH Kỹ thuật quản lý bay, còn có một đơn vị thực hiện cổ phần hóa mà VTAM nắm trên 50% vốn điều lệ là Trung tâm dịch vụ thương mại quản lý bay. Như thế có nghĩa là ngoài Trung tâm dịch vụ thương mại này ra, VTAM có thể còn đang xây dựng và triển khai công tác cổ phần hóa (hiện tại hoặc trong tương lai gần) cả những công ty con và/hoặc bộ phận khác mà qua cái tên của chúng đều cho thấy chúng dính dáng đến công tác quản lý an ninh, an toàn bay nói chung.

Bởi thế, cho dù VTAM đã và sẽ chỉ cổ phần hóa một số công ty con và/hoặc bộ phận trong số những đơn vị kể trên, và cho dù VTAM có thể sẽ vẫn nắm giữ cổ phần chi phối trong các công ty và bộ phận này sau cổ phần hóa, thì về bản chất, hoạt động của VTAM đã vương mùi thương mại, chịu phần nào ảnh hưởng của các đối tác tư nhân là các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Và cũng cần phải nhấn mạnh rằng dù các nhà đầu tư này có thể chỉ nắm cổ phần không chi phối nhưng họ không dễ dàng bỏ vốn ra mà lại chấp nhận không có tiếng nói, không có ảnh hưởng gì trong hoạt động của các công ty và bộ phận của VTAM.
Do đó, nếu cứ suy từ logic chỉ có sở hữu 100% nhà nước mới đảm bảo được an ninh, an toàn bay thì không nên cổ phần hóa các công ty/bộ phận của VTAM. Còn nếu đã chủ trương cổ phần hóa chúng thì phải chấp nhận một khái niệm mới về thế nào là, và ai đảm bảo, an ninh, an toàn bay, vốn không thể và không nên cứng nhắc và cực đoan như người ta vẫn nghĩ.

Trên hết, những lo ngại về an ninh, an toàn bay đứng từ góc độ chính trị, an ninh, và chủ quyền quốc gia hoàn toàn có thể xử lý tách rời khỏi doanh nghiệp liên đới là VTAM. Suy cho cùng, cho dù là doanh nghiệp nhà nước 100% thì VTAM vẫn chỉ là một doanh nghiệp theo đuổi đồng thời cả mục tiêu doanh thu. Nó càng không phải là một cơ quan quản lý nhà nước, mà chỉ là một công cụ để thông qua đó cơ quan quản lý nhà nước chủ quản của nó – Cảng vụ hàng không hoặc một tổ chức tương tự như vậy của Bộ GTVT – thực hiện quản lý nhà nước về an ninh, an toàn bay trên lãnh thổ Việt Nam. Cơ quan chủ quản này có trách nhiệm ban hành các quy chế, luật lệ liên quan và thanh tra, giám sát việc thực thi. Các doanh nghiệp như của VTAM hoặc bất cứ một doanh nghiệp tư nhân nào khác, nếu có trong tương lai, tham gia vào công tác điều hành, quản lý bay đều phải tuân thủ nghiêm những quy chế và luật lệ này và phải báo cáo, chịu sự theo dõi, giám sát thường xuyên của cơ quan quản lý nhà nước này. Nếu làm được như vậy thì nỗi lo mất an ninh, an toàn bay khi trao quyền cho tư nhân có thể yên tâm gạt sang một bên được!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).