Tuesday, 24 March 2015

Lỗi không phải ở ngày nghỉ (Bài đăng trên VnExpress, 24/3/2015)

(Bài này cũng đã bị edit, gọt đẽo nhiều)
http://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/loi-khong-phai-o-ngay-nghi-3157889.html

Hồi còn làm trong một cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam, một ngày giữa tháng 6, tôi nhận được thư của khách hàng, là một tổ chức tài chính nước ngoài, yêu cầu cung cấp lịch nghỉ lễ của Việt Nam cho cả năm sau đó. Tôi đành chịu vì không kiếm đâu ra cuốn lịch nào ở Việt Nam cho năm kế tiếp.
 
Đó cũng là lúc tôi mới nhận thức được rằng đối với khách hàng, nhất là người nước ngoài, chuyện sắp đặt lịch trình, kế hoạch làm việc từ trước rất lâu là điều bình thường, thiết yếu. Sau này, khi làm việc ở Nhật Bản và Singapore, vấn đề này càng hiển nhiên với tôi, và các cuốn lịch của họ cũng đều ghi rõ các ngày nghỉ lễ trong cả năm, rất thuận lợi cho mọi người.

Các nước khác dễ dàng in và công bố lịch cho năm sau từ trước đó rất lâu bởi họ có những quy định rõ ràng và nghiêm túc thực hiện những quy định này. Chẳng hạn, nhiều nước quy định nếu ngày nghỉ lễ trùng với thứ bảy, chủ nhật thì ngày kế tiếp sẽ là ngày nghỉ bù - sẽ luôn là thế và chỉ có thế. Họ không tùy tiện cho làm bù để nghỉ bù. Nếu cứ nghiêm túc làm như vậy thì cho dù chưa có lịch công bố, chưa rõ lịch nghỉ lễ cho năm sau, ai cũng biết rằng nếu ngày lễ, ví dụ ngày Tết Dương lịch 1/1 rơi vào thứ năm thì thứ sáu chắc chắn phải là ngày làm việc bình thường.

Nhưng cách làm của ta hiện nay khác với nhiều nước. Ví dụ ngày Tết Dương lịch 1/1 rơi vào thứ năm, trước đó khoảng 1-2 tháng, Chính phủ mới đột nhiên công bố hoán đổi thêm một ngày làm việc để kéo dài đợt nghỉ Tết Dương lịch thành 4 ngày liên tục (từ thứ năm đến chủ nhật), thay vì chỉ nghỉ đúng ngày như thông lệ. Sự hoán đổi này tùy tiện, mỗi năm một khác. Đó là điều theo tôi nên tránh.

Nghỉ lễ dài hay ngắn, ít hay nhiều là câu chuyện gây ra tranh cãi ở Việt Nam. Thành thực mà nói, tôi không có câu trả lời dứt khoát nên hay không nên nghỉ lễ dài. Nhưng có một vấn đề rất quan trọng là Chính phủ cần công bố và cho in vào lịch những ngày nghỉ lễ cho năm kế tiếp để các cơ quan, doanh nghiệp và người dân chủ động được kế hoạch làm việc và nghỉ ngơi của mình. Hoặc nếu thống nhất áp dụng phương pháp nghỉ ghép, hoán đổi ngày làm việc, thì phương pháp này nên được quy định rõ ràng, thành nguyên tắc chung. Theo đó, ai cũng có thể tự tiên liệu được năm tới, kỳ tới sẽ có những ngày nghỉ lễ, nghỉ bù và ngày đi làm bù nào.

Với tôi, tính minh bạch, nhất quán và rõ ràng trong việc lên lịch nghỉ lễ để không gây ảnh hưởng và đảo lộn tới đời sống xã hội một cách đột ngột như trên mới là quan trọng. Những vấn đề khác như nghỉ dài quá thì tinh thần và thái độ làm việc ảnh hưởng, các cơ quan không làm việc nghiêm túc, năng suất lao động giảm... chủ yếu là vấn đề quản lý con người và có thể khắc phục được, nếu người ta thực sự muốn, chứ bản thân những ngày nghỉ không có lỗi.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).