Friday, 8 May 2015

Chiều hướng biến động tỷ giá VND/USD trong thời gian tới sẽ thế nào? (Bài đăng trên CafeF, 8/5/2015, bản gốc)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/chieu-huong-bien-dong-ty-gia-vnd-usd-trong-thoi-gian-toi-se-the-nao-20150507233715888.chn

Cuối cùng thì Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã phải tuyên bố phá giá VND thêm 1 điểm phần trăm nữa hôm 7/5, sau bao lần cương quyết nói không với phá giá vì bao biện rằng không có cơ sở để phá giá, và rằng áp lực phá giá là do yếu tố tâm lý, chứ quan hệ cung cầu ngoại tệ vẫn bình thường, không có gì đột biến.
Vậy đợt phá giá này có phải là đợt phá giá cuối cùng trong năm 2015, sau khi NHNN đã sử dụng hết dư địa 1 điểm phần trăm còn lại trong năm 2015 như tuyên bố ban đầu của họ?
Để trả lời câu hỏi này, cần phải xem nguyên nhân nào buộc NHNN phải thay đổi 180 độ lập trường về tỷ giá của mình đến vậy.
Trước tiên, điều hình thành nên cái mà NHNN gọi là “yếu tố tâm lý” làm tăng áp lực lên tỷ giá VND, như đã biết, đến từ chuyện nhiều đồng bản tệ, trong đó có đồng bản tệ của các đối thủ cạnh tranh xuất khẩu với Việt Nam và bản tệ của các nước là thị trường xuất khẩu chủ chốt của Việt Nam, đã mất giá đáng kể so với USD kể từ giữa năm trước, kéo dài cho đến tận bây giờ, trong khi VND lại được neo chặt vào USD.
Lưu ý là USD đôi lúc có giảm đà tăng, thậm chí còn sụt giảm giá trị so với nhiều đồng bản tệ. Và đây từng là một trong những nguyên nhân chính để NHNN hôm 25/3 tuyên bố không tăng tỷ giá sau một thời gian dài im lặng bất chấp cơn sốt tỷ giá trên thị trường. Có lẽ họ hy vọng rằng áp lực lên giá của VND so với các bản tệ khác sẽ giảm đi khi USD có dấu hiệu hạ nhiệt sau tuyên bố của Fed chưa tăng lãi suất sớm. Tuy vậy, nếu tính bình quân, USD và, do đó, VND đã lên giá đáng kể so với các bản tệ này, kể cả tính đến thời gian hiện tại, so với thời điểm cách đây nửa năm hay 1 năm.
Đó là chưa kể so với ngay chính USD, tuy tỷ giá VND khá ổn định về mặt danh nghĩa trong 2, 3 năm qua, nhưng do chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và Mỹ đã ở mức khá lớn nên VND đã lên giá thực so với USD, và do đó càng lên giá mạnh so với các bản tệ khác.
Theo lẽ tất nhiên, khi VND lên giá thực và đáng kể so với USD và các bản tệ khác thì sẽ tác động tiêu cực trực tiếp đến cán cân thương mại của Việt Nam. Nó sẽ làm cho hàng xuất khẩu của Việt Nam gặp khó ở khắp nơi trên thế giới do kém cạnh tranh về giá, trong khi lại tạo điều kiện cho hàng hóa nhập khẩu từ thế giới tràn vào thị trường nội địa, bóp nghẹt sản xuất trong nước, cũng với cùng lý do là hàng trong nước không cạnh tranh được về giá so với hàng ngoại nhập.
Có lẽ những tác động này là khó nhận biết, cảm nhận, và khó hiểu với nhiều người vì nó mang tính lý thuyết quá. Nhưng nó lại được thực tế phản ánh một cách rõ rệt và chân thực qua nỗi khó khăn của các doanh nghiệp xuất khẩu và sản xuất trong nước do không bán được hàng hoặc phải hạ giá để cạnh tranh với đối thủ ngoại, và qua hiện thực đáng lo là cán cân thương mại đã chuyển từ thặng dư lớn tính chung cho cả năm 2014 sang thâm hụt trên 3 tỷ USD trong mấy tháng đầu năm nay.
Bởi vậy, theo quy luật thị trường thì NHNN sẽ bị áp lực phá giá VND để lập lại cân bằng thương mại. Nhưng tiếc là NHNN, vì đã chót tuyên bố không phá giá VND quá 2 điểm % trong năm nay, lại tìm cách chống lại quy luật này bằng việc cố gắng ổn định tỷ giá.
Nỗ lực ổn định tỷ giá của NHNN không chỉ sẽ làm sụt giảm dự trữ ngoại hối không lấy gì làm dồi dào của mình, mà còn không có tác dụng xả van áp lực lên tỷ giá VND vì áp lực này phần lớn đến từ bên ngoài, ngoài tầm kiểm soát của NHNN, và không hề cho thấy có dấu hiệu sẽ tự động giảm đi, ít nhất trong thời gian ngắn trước mắt.
Có lẽ cũng đã hiểu được tình thế vô vọng trong cuộc chiến bảo vệ tỷ giá trong phạm vi cam kết không quá 2 điểm phần trăm chỉ để giữ chữ tín, NHNN buộc phải buông tay, chấp nhận cho tỷ giá chính thức tăng  thêm 1 điểm phần trăm nữa.
Trên đây là tóm tắt bối cảnh của đợt phá giá ngày 7/5. Từ bối cảnh này, có thể thấy rằng thời gian tới trong năm nay, nếu cán cân thương mại tiếp tục được duy trì ở mức thâm hụt (tức vẫn nhập siêu), và nếu USD mạnh trở lại hoặc tiếp tục mạnh lên hơn nữa so với các đồng bản tệ khác do, ví dụ, Fed (có kế hoạch rõ ràng) nâng lãi suất USD, thì chắc chắn một điều là VND vẫn sẽ tiếp tục chịu áp lực phá giá thêm. Lúc đó, hy vọng rằng NHNN đã rút ra được bài học đắt giá về thị trường, về chữ tín để không khiên cưỡng đi ngược lại quy luật của thị trường. Nói cách khác, mức phá giá 1 điểm phần trăm hôm 7/5 sẽ không phải là lần cuối trong năm nay.
Cũng may là NHNN trong tuyên bố “điều chỉnh tăng” tỷ giá hôm 7/5 đã không còn đưa ra bất cứ một cam kết “cứng” về tỷ giá nào như trước nữa, chắc là để dọn đường cho những đợt phá giá sau này, nếu có.
------------------------------------
Bình luận thêm

Mấy tuần rồi chứng kiến các chuyên ra phát biểu về tỷ giá mới thấy hài. Hóa ra toàn phường nói dựa, gió chiều nào che chiều đó. Từ Nguyễn Trí Hiếu, Vũ Đình Ánh cho đến chuyên ra hang 2 như Cấn Văn Lực, Trương Văn Phước, chưa kể chóp bu khác của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia. 
Có đồng chí nào rỗi, ngồi tìm lại các bài phát biểu trước đây của mấy chuyên ra này rồi so lại với phát biểu mấy hôm nay của chính mấy đồng chí đó mới thấy sự chuyển biến tâm tư ngoạn mục, theo kiểu diễn biến hòa bình. Đúng là tài thật, quá tài.
Có lẽ chỉ có mỗi mình tớ với cả…. Ngân hàng Nhà nước là không thấy bất ngờ với chuyện phá giá!

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).