Tuesday, 12 May 2015

Mua toàn bộ cổ phần ngân hàng giá 0 đồng liệu có làm nản lòng nhà đầu tư? (Bài đăng trên CafeF, 12/5/2015, bản gốc)

http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/mua-toan-bo-co-phan-ngan-hang-gia-0-dong-lieu-co-lam-nan-long-nha-dau-tu-20150512105218367.chn

Việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mua bắt buộc Ngân hàng Xây dựng và Ngân hàng Đại dương với giá 0 đồng/cổ phần đã đặt ra một loạt câu hỏi thiết thực và sát sườn: Liệu các vụ quốc hữu hóa ngân hàng như thế này có làm cho nhà đầu tư hoảng sợ, tháo chạy khỏi hệ thống ngân hàng không? Ai sẽ bảo vệ nhà đầu tư khi họ bỏ tiền vào ngân hàng mà mất sạch? Và trách nhiệm cơ quan quản lý ở đâu và như thế nào...?

 Để trả lời những câu hỏi này, trước tiên cần hiểu về bối cảnh cho những vụ quốc hữu hóa, mua lại bắt buộc với cái giá 0 đồng này.
Các ngân hàng thuộc diện bị mua lại bắt buộc với cái giá 0 đồng trên và sau này, nếu có, đều là các ngân hàng cực kỳ yếu kém, vốn chủ sở hữu thậm chí đã tụt xuống âm. Thực chất các ngân hàng này đã lâm vào tình trạng phá sản kỹ thuật, không được phép tồn tại và hoạt động theo luật định, và thuộc diện bị/cần cho phá sản. Nhưng NHNN đã có phương châm không để ngân hàng nào phá sản, chủ yếu với lý do e ngại sự phản ứng dây chuyền thái quá của nhà đầu tư cũng như người gửi tiền ở các ngân hàng này và các ngân hàng còn lại trong hệ thống, có nguy cơ dẫn đến sự đổ vỡ của cả hệ thống.
Bởi vậy, phương sách thay thế đỡ tệ hơn việc để cho các ngân hàng này phá sản là mua lại bắt buộc với giá 0 đồng, và việc này là hợp pháp vì đã được luật hóa theo Quyết định 48/2013/QĐ-TTg. Vì là được mua lại (bắt buộc) nên trên danh nghĩa các ngân hàng này vẫn tồn tại, và trên thực tế đã bị quốc hữu hóa, biến thành ngân hàng 100% thuộc sở hữu nhà nước. Tất nhiên, để các ngân hàng này hoạt động bình thường trở lại, phù hợp và đáp ứng các luật lệ và tiêu chuẩn an toàn hoạt động thì NHNN phải tốn thêm một mớ tiền nhiều chục nghìn tỷ đồng nữa, cùng với hàng loạt hành động đằng sau hậu trường từ nhân sự đến xử lý tồn đọng liên quan đến pháp lý...
Trong bối cảnh như vậy, nhà đầu tư và cả người gửi tiền đã và nên hiểu rằng từ bây giờ trở đi tuy vẫn có thể NHNN không để cho ngân hàng nào phá sản nhưng tài sản của nhà đầu tư và người gửi tiền sẽ không còn luôn tuyệt đối an toàn nữa. Với nhà đầu tư mua cổ phần ngân hàng, cổ phần của họ có thể vẫn còn đó, nhưng sẽ có thể chỉ còn là mớ giấy lộn. Với người gửi tiền, có thể tiền gửi của họ vẫn sẽ được chi trả dưới thời “ông chủ” mới nhưng trong giai đoạn lộn xộn khi ngân hàng bị đặt trong diện mua lại bắt buộc thì việc rút tiền ra có thể có thời điểm nào đó bị đóng băng.
Như thế, khó mà nói rằng nhà đầu tư và người gửi tiền sẽ hoảng sợ, không còn muốn đầu tư hay gửi tiền vào hệ thống ngân hàng nữa. Vẫn còn nhiều ngân hàng lành mạnh trong hệ thống ngân hàng đáng để đầu tư, và khả năng đổ vỡ của hệ thống đã và đang được kiểm soát tốt bởi NHNN. Nhưng có một điều chắc chắn rằng nhà đầu tư và người gửi tiền từ nay trở đi sẽ phải thận trọng hơn với đồng tiền của mình, không còn và không nên giữ tinh thần “lãi mình hưởng, thiệt hại nhà nước chịu” để nhắm mắt đổ tiền vào bất cứ ngân hàng nào sinh lợi cao bất chấp rủi ro đổ vỡ như thế nào.
Về câu hỏi, ai sẽ bảo vệ nhà đầu tư để tránh tình trạng bỏ tiền ra rồi mất sạch khi bị NHNN mua lại với giá 0 đồng, và trách nhiệm của cơ quan quản lý. Nhà đầu tư trước tiên phải tự bảo vệ mình. Việc đầu tư luôn là việc mạo hiểm, kèm rủi ro, ở nhiều mức độ khác nhau, tùy thuộc vào bản chất và hạng mục đầu tư của mình. Bởi vậy, sự nhanh nhậy, tính toán khôn ngoan, cẩn trọng luôn là điều cần thiết trước và trong mỗi quyết định đầu tư. Với trường hợp các ngân hàng bị mua lại như trên, nếu khôn ngoan, tỉnh táo thì nhà đầu tư đã phải rút vốn, thậm chí bán tống bán tháo được đồng nào hay đồng đó từ rất sớm, khi có dấu hiệu rằng các ngân hàng này đang gặp rắc rối. Nhưng cũng có thể vì không biết, không quan tâm, vì hy vọng rằng mọi chuyện sẽ ổn thỏa, vì tiếc tiền... nên nhiều nhà đầu tư mắc kẹt, không kịp thoát ra trước khi mọi giao dịch cổ phiếu của ngân hàng bị đóng băng. Để liên hệ với chuyện này, hãy cùng nhớ lại rằng mỗi khi các hãng lớn trên thế giới có một vấn đề gì đó phát sinh, lập tức giá cổ phiếu của họ chao đảo, do hành động bán tháo, cắt lỗ của nhà đầu tư trước nguy cơ hãng này bị sa vào những tình huống khó khăn.
Tất nhiên, cũng như với mọi thị trường hàng hóa và dịch vụ khác, nhà đầu tư trong thị trường ngân hàng cũng được bảo vệ bởi các tầng lớp luật lệ và quy định, để đảm bảo tài sản của nhà đầu tư không tự nhiên biến mất một cách oan ức và vô lý được. Nhưng sự bảo vệ này cũng không có nghĩa là nhà đầu tư sẽ luôn an toàn, vô sự. Ngược lại, nhà đầu tư, như đã nói ở trên, cần phải nhạy bén, khôn ngoan, tỉnh táo để phát hiện ra những nguy cơ rủi ro trong khoản đầu tư của mình nếu đối chiếu với các quy định và luật lệ hiện hành để mà có quyết định sớm về khoản đầu tư của mình.
Đồng thời cũng trên phương diện luật định này, có thể chỉ ra ngay trách nhiệm của NHNN và các cơ quan liên đới. Tuy đã ban hành nhiều luật định và có cơ chế và bộ máy theo dõi, giám sát đồ sộ, nhưng những nhà quản lý đã không kịp thời phát hiện, cảnh báo những trường hợp như Ngân hàng Xây dựng và Ngân hàng Đại dương để đến nỗi chúng rơi vào tình trạng âm vốn chủ sở hữu thì mới có hành động đối phó. Lẽ ra, chỉ cần vốn chủ sở hữu tụt xuống thấp hơn mức an toàn tối thiểu quy định cho cả hệ thống thì NHNN đã phải hành động tương thích để ngăn chặn tình trạng của chúng tiếp tục xấu đi, đe dọa đến tính an toàn của cả hệ thống. Bởi vậy, nếu cổ đông các ngân hàng này nên trách mình một thì họ cũng có quyền và nên trách NHNN mười vì đã không làm tròn trách nhiệm với tư cách là cơ quan quản lý, giám sát, gây thiệt hại nặng nề cho họ.
Mặt khác, cũng cần phải nhấn mạnh rằng có nhiều tầng lớp luật lệ, quy định cũng không có nghĩa là các luật lệ và quy định hiện nay là hoàn thiện, đầy đủ rồi. Ngược lại, luôn có những lỗ hổng lớn trong luật, như được minh họa qua các vụ án liên quan đến ngân hàng gần đây, cho thấy nhu cầu phải bổ sung và hoàn thiện các luật lệ và quy định hiện hành để bảo vệ hữu hiệu hơn nữa nhà đầu tư và người gửi tiền.
Chưa hết, trong trường hợp mua lại các ngân hàng vừa qua, lẽ ra NHNN phải công khai hóa ngay từ đầu những ngân hàng nào thuộc diện yếu kém, cần tái cơ cấu, và/hoặc những ngân hàng nào đang bị đặt trong diện kiểm soát đặc biệt, là đối tượng cho những hành động tiếp theo của NHNN v.v..., để các nhà đầu tư và người gửi tiền có quyết định phù hợp. Tình trạng u u, minh minh, mập mờ về thông tin là một trong những nguyên nhân cho những lời phàn nàn uất ức của một số nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư nhỏ lẻ không có cách gì biết được điều gì đang xảy ra đằng sau hậu trường các ngân hàng này.
Nếu lo ngại việc minh bạch và công khai hóa này sẽ làm rúng động cả hệ thống, thì NHNN có thể tái lập mạnh mẽ cam kết của mình như không để đổ vỡ mang tính hệ thống, không để người gửi tiền bị thiệt hại. Song song với đó, cần thiết phải sửa lại mức chi trả quy định bảo hiểm tiền gửi vốn đã lạc hậu từ lâu. Nhà quản lý cũng cần tiến tới việc chấp nhận để/buộc các ngân hàng yếu kém phá sản để các quy luật thị trường phát huy đầy đủ tác dụng trong việc tưởng thưởng và trừng phạt nhà đầu tư.

------------------------
Cập nhật: Bài này đã bị gỡ xuống


Cập nhật tiếp ngày 13/5: Một số  bài khác của tớ gần đây cũng đã bị gỡ xuống, chắc do áp lực của ai đó.

Một số nghiên cứu bằng tiếng Anh của tớ

(Một số bài không download được. Bạn đọc có nhu cầu thì bảo tớ nhé)

19. Yang, Chih-Hai, Ramstetter, Eric D., Tsaur, Jen-Ruey, and Phan Minh Ngoc, 2015, "Openness, Ownership, and Regional Economic Growth in Vietnam", Emerging Markets Finance and Trade, Vol. 51, Supplement 1, 2015 (Mar).
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/1540496X.2014.998886#.Ve7he3kVjIU

18. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2013, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', Journal of Asian Economics, Vol. 25, Apr 2013,
http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1049007812001170.

17. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2011, 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Further Evidence from Vietnamese Manufacturing', ESRI Discussion Paper Series No.278, Economic and Social Research Institute, Cabinet Office, Tokyo, Japan. (http://www.esri.go.jp/en/archive/e_dis/abstract/e_dis278-e.html)

16. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2009, ‘Foreign Ownership and Exports in Vietnamese Manufacturing’, Singapore Economic Review, Vol. 54, Issue 04.
(http://econpapers.repec.org/article/wsiserxxx/v_3a54_3ay_3a2009_3ai_3a04_3ap_3a569-588.htm)

15. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘The Roles of Capital and Technological Progress in Vietnam’s Economic Growth’, Journal of Economic Studies, Vol. 32, No. 2.
(http://www.emeraldinsight.com/journals.htm?articleid=1724281)

14. Phan, Minh Ngoc, 2008. ‘Sources of Vietnam’s Economic Growth’, Progress in Development Studies, Vol. 8, No. 3.
(http://pdj.sagepub.com/content/8/3.toc)

13. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2008. 'Productivity, Ownership, and Producer Concentration in Transition: Evidence from Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2008-04, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2008a_e.html#04)

12. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Employee Compensation, Ownership, and Producer Concentration in Vietnam’s Manufacturing Industries’, Working Paper 2007-07, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html)

11. Ramstetter, Eric D. and Phan Minh Ngoc, 2007. ‘Changes in Ownership and Producer Concentration after the Implementation of Vietnam’s Enterprise Law’, Working Paper 2007-06, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2007a_e.html#06)

10. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2006. ‘Economic Growth, Trade, and Multinational Presence in Vietnam's Provinces’, Working Paper 2006-18, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. Also presented in the 10th Convention of the East Asian Economic Association, Nov. 18-19, 2006, Beijing.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/wp2006a_e.html#18)

9. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, Phan Thuy Nga, and Shigeru Uchida, 2005. ‘Effects of Cyclical Movements of Foreign Currencies’ Interest Rates and Exchange Rates on the Vietnamese Currency’s Interest and Exchange Rates’. Asian Business & Management, Vol. 4, No.3.
(http://www.palgrave-journals.com/abm/journal/v4/n3/abs/9200134a.html)

8. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam's Economic Transition’. Asian Economic Journal, Vol.18, No.4.
(http://ideas.repec.org/a/bla/asiaec/v18y2004i4p371-404.html)

7. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2004. ‘Foreign Ownership Shares and Exports of Multinational Firms in Vietnamese Manufacturing’, Working Paper 2004-32, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. An earlier version of this paper was presented in the 9th Convention of the East Asian Economic Association, 13-14 November 2004, Hong Kong.
(www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2004/2004-32.pdf)

6. Phan, Minh Ngoc, Nguyen Thi Phuong Anh, and Phan Thuy Nga, 2003. ‘Exports and Long-Run Growth in Vietnam, 1976-2001’, ASEAN Economic Bulletin, Vol.20, No.3.
(http://findarticles.com/p/articles/mi_hb020/is_3_20/ai_n29057943/)

5. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2003. ‘Comparing Foreign Multinationals and Local Firms in Vietnam’, Working Paper 2003-43, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

4. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2003. ‘Stabilization Policy Issues in Vietnam’s Economic Transition’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 44 (March).

3. Phan, Minh Ngoc and Eric D. Ramstetter, 2002. ‘Foreign Multinationals, State-Owned Enterprises, and Other Firms in Vietnam’, Working Paper 2002-23, Kitakyushu: International Centre for the Study of East Asian Development. This paper was also presented in the 8th Convention of the East Asian Economic Association, 4-5 November 2002, Kuala Lumpur.
(http://www.icsead.or.jp/7publication/workingpp/wp2003/2003-43.pdf)

2. Phan, Minh Ngoc and Shigeru Uchida, 2002. ‘Capital Controls to Reduce Volatility of Capital Flows; Case Studies in Chile, Malaysia, and Vietnam in 1990s’. Annual Review of Southeast Asian Studies, Research Institute of Southeast Asia, Faculty of Economics, Nagasaki University, Vol. 43 (March).

1. Phan, Minh Ngoc, 2002. ‘Comparisons of Foreign Invested Enterprises and State-Owned Enterprises in Vietnam in the 1990s’. Kyushu Keizai Nenpo (the Annual Report of Economic Science, Kyushu Association of Economic Science), No.40 (December). An earlier version of this paper was presented in the 40th Conference of the Kyushu Keizai Gakkai (Kyushu Association of Economic Science).